Trích
“Mạn đàm về nhiếp ảnh” của TS Duco Lidia Pavlovna- Chương 9: Ánh sáng
trong thiên nhiên và trong nhiếp ảnh.
Biên
dịch: Th sỹ Nguyễn Thanh Bình- Phạm Thanh Hà
Hiệu
đính và bổ xung: NSƯT-NSNA Phạm Thanh Hà
Tiến sỹ Dưco L.P là nhà sự phạm lỗi lạc, bà nhiều chục năm giảng dạy môn Bố cục ảnh tại Khoa Quay phim Trường Đại học Điện ảnh Quốc gia toàn Liên xô. Nhiều thế hệ quay phim Việt Nam đã được bà giảng dạy nhiếp ảnh trong những năm đầu học quay phim, đó là NSƯT Nguyễn Quang Tuấn, Nguyễn Xuân Chân, Đỗ Mạnh Hùng, Trần Trung Nhàn, Nguyễn Mạnh Lân, NSND Trần Quốc Dũng, NSƯT Phạm Thanh Hà. Biên dịch những lý thuyết ánh sáng của một người thầy lỗi lạc, chúng tôi lược bớt một số một vài đoạn về lý thuyết phim nhựa mà trong thời đại nhiếp ảnh kỹ thuật số số lượng người có khả năng cùng điều kiện theo đuổi không nhiều. Họ có thể tham gia những chuyên đề và các cuộc thảo luận khác về nhiếp ảnh máy phim. Ngoài ra, trong khi lĩnh hội lại những kiến thức của người thầy cũ tôi-Phạm Thanh Hà cũng xin phép được thay thế các minh họa trong cuốn sách “Mạn đàm về nhiếp ảnh” vốn đã mờ, cũ bằng những ảnh mình tự thực hiện tương thích với nội dung bà giáo Dưco L.P đáng kính của mình, cũng là để phù hợp hơn với những người học nhiếp ảnh Việt Nam.
NSƯT-NSNA Phạm Thanh Hà
Từ “nhiếp ảnh” đã
trở nên quen thuộc đến mức ý nghĩa ban đầu của nó thường bị lãng quên theo nghĩa
đen có nghĩa là “viết bằng ánh sáng”, từ ngữ diễn đạt rất chính xác bản chất của
quá trình tạo hình nhiếp ảnh. Thật vậy, bức ảnh được “viết bằng ánh sáng”, hình
thành do tác động quang – hóa của năng lượng ánh sáng lên lớp nhũ tương nhạy
sáng phủ trên phim, mặt kính ảnh hoặc giấy ảnh.
Đó là ý nghĩa kỹ
thuật nhưng trong đó cũng có một ý nghĩa nghệ thuật. Theo phép so sánh mang
tính tương đối với hội họa, ta có thể hiểu “viết bằng ánh sáng” như một phương
thức nghệ thuật để thể hiện hiện thực trong toàn bộ sự đa dạng, sinh động và vẻ
đẹp của nó. Và dù trong nhiếp ảnh đen trắng chỉ là dải các sắc độ vô sắc, việc
sử dụng ánh sáng một cách khéo léo vẫn có thể làm cho hình ảnh trở nên giàu chất
tạo hình và “giàu màu sắc” theo cách riêng của nó.
Nguồn
sáng chụp ảnh ngoại cảnh.
Trong thực hành
nhiếp ảnh ánh sáng ban ngày được sử dụng phổ biến nhất, được gọi là ánh sáng
ngoại cảnh hay ánh sáng tự nhiên. Nguồn sáng chính ở đây là mặt trời, dù là khi
nắng hay lúc chụp trong điều kiện trời nhiều mây, khi mà ánh sáng mặt trời chỉ
đến được đối tượng sau khi đã bị tán xạ.
Khi bầu trời không
mây, mặt trời chiếu xuống Trái Đất dòng các tia sáng song song rất mạnh và trên
các vật thể được chiếu sáng hình thành một dải sáng – tối đậm-nhạt, một cấu
trúc ánh sáng giàu tính tạo hình. Đó chính là “bảng màu” đặc trưng mà nhiếp ảnh
gia tác nghiệp. Cũng có thể nói như vậy trong nhiếp ảnh đen trắng. Ta có thể hệ thống hóa các “màu sắc” này. Ở
phía hướng về nguồn sáng, trên vật thể xuất hiện những vùng sáng có độ chói cao
gọi là phần sáng. Ở phía đối lập hình thành các vùng tối, thường gọi là bóng tự
thân. Đồng thời, chính vật thể được chiếu sáng cũng đổ bóng lên các bề mặt xung
quanh hoặc lên những vật thể khác — đó là bóng đổ.
Ngược lại, các bề
mặt xung quanh cũng phản xạ lại một dòng ánh sáng tán xạ. Dòng ánh sáng này
không mạnh và ít ảnh hưởng đến các vùng sáng, nhưng trong vùng tối thì lại thấy
rõ, làm sáng nhẹ các phần bóng. Hiện tượng chiếu sáng này được gọi là phản
quang (reflex). Các bề mặt tạo nên khối của vật thể quay về phía ánh sáng dưới
những góc khác nhau, vì vậy có mặt sáng hơn, có mặt tối hơn. Do đó không chỉ có
bóng tối mà còn có cả vùng bán tối — những chuyển tiếp mềm từ vùng sáng mạnh
sang vùng tối sâu. Và ở những nơi tia sáng phản xạ theo góc phản xạ gương, xuất
hiện các điểm lóe sáng (highlight).
Có lẽ nhiều người
trong các bạn cũng đã thử chụp dưới ánh trăng, vào buổi tối muộn. Khi đó, bạn
có thể nhận thấy rằng hình dạng và cấu trúc sáng – tối dưới ánh trăng tương tự
như dưới ánh sáng mặt trời. Tuy nhiên, các hiệu ứng chiếu sáng này vẫn khác
nhau đáng kể do những đặc tính khác. Sự khác biệt trước hết thể hiện ở mức độ
chiếu sáng, vốn thấp hơn rất nhiều vào ban đêm. Ban đêm, độ tương phản sáng – tối
tăng mạnh. Nếu ban ngày trong vùng tối vẫn dễ nhận ra các chuyển sắc, thì ban
đêm bóng tối trở nên đồng nhất hơn và mất chi tiết.
Trong ngoại cảnh
cũng có không ít nguồn sáng nhân tạo. Nhiếp ảnh gia thường đưa chúng vào khung
hình như những yếu tố của bố cục chung. Đó có thể là đèn đường, các tủ kính
trưng bày được chiếu sáng, ánh đèn quảng cáo hay pháo hoa, đống lửa bên bờ
sông, v.v. Hiệu ứng chiếu sáng vào đầu buổi tối đặc biệt giàu chất tạo hình,
khi vẫn còn một lượng nhỏ ánh sáng ban ngày và đồng thời các ánh đèn đã bắt đầu
được thắp lên. Đây là thời điểm rất thuận lợi cho việc chụp ảnh. Trên đối tượng
vẫn còn ánh sáng tán xạ ở mức tối thiểu, cho phép thể hiện tinh tế các chi tiết
trong vùng tối. Đồng thời, ánh đèn tạo nên độ tương phản cao trong cấu trúc ánh
sáng. Hình ảnh vì thế vừa mềm mại trong chuyển sắc, vừa rực rỡ về “màu sắc”.
Đại lộ Sain Elise vào
đêm- Phạm Thanh Hà
Sự tinh tế của cấu
trúc sắc độ dần mất đi cùng với việc ánh sáng tán xạ ban ngày biến mất hoàn
toàn. Xuất hiện những độ tương phản còn cao hơn, do khoảng chênh lệch độ sáng lớn
trong cảnh quan đô thị buổi tối và ban đêm. Thường thì tông chung của bức ảnh
trở nên gần như đen hoàn toàn, còn các điểm sáng tương phản mạnh với nền này
phân tán khắp khung hình. Khi đó hình ảnh trở nên “loang lổ” do thiếu các tông
xám trung gian để liên kết các điểm sáng thành một tổng thể.
Ánh
sáng tán xạ của bầu trời. Nếu xét nghiêm khắc ta
không thể coi ánh sáng này như một nguồn chiếu sáng độc lập trong ngoại cảnh.
Nó không phải là bức xạ trực tiếp mà là kết quả của sự phản xạ nhiều lần của
tia sáng mặt trời trong khí quyển. Tuy nhiên, vai trò của ánh sáng tán xạ đối với
đặc điểm chung của ánh sáng ngoại cảnh lớn đến mức đôi khi nó được xem như một
nguồn sáng riêng biệt.
Một phần tia sáng
mặt trời bị tán xạ trong khí quyển và đến bề mặt Trái Đất dưới dạng một dòng
ánh sáng mềm, không định hướng, chiếu sáng tất cả các bề mặt — cả những nơi nhận
ánh sáng trực tiếp lẫn những vùng nằm trong bóng tối. Hiệu ứng chiếu sáng này
rõ nhất ở các vùng tối của đối tượng. Nếu vị trí của mặt trời quyết định cấu
trúc sáng – tối, thì lượng ánh sáng tán xạ trong khí quyển lại quyết định độ
tương phản của cấu trúc đó.
Ánh sáng ban ngày
có thể tạo ra cả cấu trúc sáng – tối rất mềm hoặc rất tương phản vì lượng ánh
sáng tán xạ thay đổi tùy theo trạng thái bầu trời. Khi trời quang không mây ánh
sáng tán xạ ít nhất mây đóng vai trò như những tấm phản quang, làm tăng lượng
ánh sáng tán xạ vào đối tượng. Khi trời nhiều mây độ tương phản sáng – tối giảm
đi. Nếu bầu trời bị phủ kín bởi một lớp mây mỏng, bán trong suốt, đối tượng sẽ
được “lấp đầy” ánh sáng tối đa, khi đó bóng đổ chỉ còn hiện lên rất nhẹ.
Ánh
sáng phản xạ. Bức tranh ánh sáng ban ngày sẽ chưa đầy đủ
nếu ngoài ánh sáng mặt trời trực tiếp và ánh sáng tán xạ từ bầu trời, ta không
xét đến ánh sáng phản xạ từ các vật thể trên mặt đất tham gia vào việc chiếu
sáng chung của đối tượng. Trong nhiều trường hợp, nguồn sáng này có thể đạt cường
độ đáng kể, như khi chụp trên tuyết, bờ biển, cát, gần những bức tường sáng màu
v.v. Ví dụ, khi chụp ở bờ biển, việc đo sáng thường cho kết quả tốc độ màn trập
ngắn hơn so với khi chụp ở rìa rừng. Nếu là ở miền cận-nhiệt đới phương Nam, có
thể giải thích bằng cường độ ánh sáng mặt trời cao hơn. Nhưng hiện tượng tương
tự cũng xảy ra ở các bờ biển phương Bắc. Do đó việc tính toán phơi sáng chịu ảnh
hưởng của sự gia tăng ánh sáng tán xạ tổng thể, do không chỉ bầu trời mở chiếu
sáng đối tượng mà còn có một “tấm phản quang” mạnh của bề mặt biển.
Hướng
của ánh sáng mặt trời. Cấu trúc ánh sáng của
khung hình phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Biết rằng hướng của
các tia sáng mặt trời thay đổi theo thời gian trong ngày. Chẳng hạn nếu đặt máy
ảnh trên chân, chọn khung hình và chụp thì cứ mỗi ba giờ một lần loạt ảnh này sẽ
cho thấy đầy đủ sự thay đổi của tính chất chiếu sáng và cấu trúc ánh sáng trên
đối tượng chụp. Đối với người mới bắt đầu học việc thực hiện một loạt ảnh như vậy
rất có ích vì nó mang lại một bài học trực quan để nghiên cứu các khả năng của ánh sáng. Những khung hình
được chụp dưới ánh sáng thuận, ánh sáng bên và ánh sáng ngược sẽ cho nhiếp ảnh
gia thấy kiểu cấu trúc ánh sáng nào thể hiện tốt nhất khối, không gian và thể
hiện rõ đặc điểm của phong cảnh.
Tuy nhiên, rõ ràng
không phải lúc nào cũng có điều kiện để ở lại hiện trường chụp trong thời gian
dài như vậy và điều đó cũng không nhất thiết. Bởi vì vấn đề nằm ở hướng chiếu của
tia sáng mặt trời so với hướng chụp. Do đó, bằng cách thay đổi vị trí đặt máy ảnh
và hướng mà ống kính hướng tới đối tượng, ta có thể tìm được ánh sáng trực diện
cũng như các dạng ánh sáng chiếu bên và ngược sáng khác nhau, giúp làm nổi bật
chất liệu bề mặt, hình khối và vị trí không gian của các hình thể và vật thể.
Vậy khả năng và hạn
chế của từng hướng chiếu của nguồn sáng chính này là gì?
Ánh
sáng thuận: Là ánh sáng chiếu vào đối tượng từ phía
máy ảnh. Phần lớn các ví dụ cho thấy đây thường là điều kiện chiếu sáng không
thuận lợi cho việc chụp ảnh: trong những trường hợp này thiếu cấu trúc ánh sáng
giàu tính biểu cảm, có sức truyền đạt mạnh , không có sự phân biệt giữa vùng
sáng và vùng tối; hình khối và không gian ảnh được thể hiện kém, hình ảnh trở
nên phẳng; bóng đổ của các vật thể rơi về phía sau và bị che khuất bởi chính
các hình thể và vật thể, do đó từ phía máy ảnh không nhìn thấy bóng.
Do đó, không gian
dưới ánh sáng thuận cũng được thể hiện rất yếu bởi vì các vật thể ở những khoảng
cách khác nhau so với điểm chụp trong trường hợp này đều được chiếu sáng gần
như bằng nhau và các sắc độ gần giống nhau về độ sáng, làm mất đi cảm nhận về
khoảng cách giữa chúng. Không có yếu tố nào chỉ ra sự phân bố của các hình thể
trong không gian và các chi tiết hình ảnh được cảm nhận như nằm sát nhau.
Việc tất cả các
chi tiết của đối tượng đều được thể hiện với cường độ mạnh như nhau và tương phản
về sắc độ dẫn đến sự “rối mắt” không cần thiết của bức ảnh, làm cho nó bị quá tải
chi tiết.
Ánh sáng thuận ngoại
cảnh- Phạm Thanh Hà
Tất cả những điều này là cơ sở để coi ánh sáng thuận là không mong muốn trong đa số trường hợp. Trong thực hành nên tránh loại ánh sáng này nếu có thể, trừ khi được suy tính kỹ lưỡng để giải quyết những nhiệm vụ tạo hình đặc biệt do nhiếp ảnh gia đặt ra. Vậy đó là những trường hợp nào?
Ánh sáng thuận có thể được sử dụng khi nhiếp ảnh gia muốn thể hiện sắc độ vốn có của đối tượng mà không bị biến đổi bởi cấu trúc ánh sáng tức là không có vùng sáng chói hoặc bóng tối sâu. Khi đó, hình ảnh trở nên rất tinh tế, nhẹ nhàng, đôi khi được gọi là mang tính “màu phấn”. Tuy nhiên, hiệu quả này không phải lúc nào cũng đạt được mà chỉ xuất hiện trong những trường hợp đặc biệt. Ở đây có một yêu cầu quan trọng đối với chính đối tượng chụp: nó phải thống nhất về sắc độ gồm các tông gần nhau về độ sáng hoặc chỉ gồm một số ít tông tương phản, ví dụ: chỉ đen và trắng mà không có các sắc xám trung gian. Khi đó, với điều kiện kỹ thuật chụp hoàn hảo, có thể thu được hình ảnh như ảnh dưới đây. Tượng thạch cao được chiếu sáng chỉ bởi một nguồn sáng — một chùm sáng rộng, mềm, chính xác từ phía máy ảnh và ở cùng độ cao với vị trí của mô hình. Có thể dùng nguồn sáng thứ hai chiếu sáng phông nền trắng. Độ sáng của nó hơi lớn hơn độ sáng của tượng, nhờ đó hình thể được tách khỏi nền bằng một đường viền bóng nhẹ.
Ánh
sáng bên: Hình thành trên đối tượng khi dòng tia
sáng mặt trời chính chiếu từ hướng bên tạo nên một hiệu quả sáng – tối thú vị
và giàu tính tạo hình hơn, đồng thời khắc phục nhiều nhược điểm của ánh sáng
thuận.
Nắng đông- Ảnh Phạm
Thanh Hà
Ảnh trên được thực
hiện dưới ánh sáng bên, cho thấy rằng cấu trúc sáng-tối rõ ràng trở thành yếu tố
tổ chức sự phân bố sắc độ trong khung hình. Bức ảnh không có sự “rối mắt” dư thừa
vì một phần đáng kể các chi tiết của đối tượng rơi vào vùng tối, và nhiều chi
tiết không còn được thể hiện mạnh như những chi tiết được chiếu sáng chói.
Sự xen kẽ giữa
vùng sáng và vùng tối, giữa phần được chiếu sáng và phần bị che khuất, tạo nên
cảm nhận về chiều sâu không gian của đối tượng, nhờ đó bức ảnh không còn mang
tính phẳng, bẹt- một nhược điểm thường gặp khi chụp với ánh sáng trực diện. Ánh
sáng bên làm nổi rõ khối và địa hình bề mặt, thể hiện rõ hơn chất liệu của các
bề mặt và vật thể. Vì vậy, hướng ánh sáng bên có lẽ là hướng được sử dụng phổ
biến nhất trong nhiếp ảnh và trong nhiều trường hợp mang lại kết quả rất tốt.
Ánh sáng bên được
sử dụng theo hướng vuông góc với trục quang học của ống kính. Tuy nhiên, vẫn có
nhiều biến thể của ánh sáng bên: ánh sáng chếch trước, ánh sáng chếch sau, v.v.
Toàn bộ nhóm cấu trúc ánh sáng này đều cho kết quả tốt và có đặc điểm chung là
sự hiện diện rõ ràng của sáng – tối trong khung hình.
Ánh
sáng ngược nghĩa là khi mặt trời nằm đối diện với ống
kính máy ảnh, các tia sáng chiếu ngược lại hướng chụp. Kết quả của kiểu chiếu
sáng này là gì?
Một sớm Paris- Ảnh Phạm Thanh Hà
Các vật thể tạo
nên đối tượng chụp, khi ở trong điều kiện ngược sáng, quay về phía máy ảnh bằng
mặt tối của chúng trong khung hình vùng tối chiếm ưu thế và bức ảnh mang tông sắc
thấp, tối. Hình ảnh trở nên “tập trung” hơn về sắc độ so với ảnh chụp bằng ánh
sáng bên, vì các điểm sáng chỉ chiếm diện tích tương đối nhỏ. Sự rối mắt và quá
tải chi tiết trong ảnh, đúng như vậy, gần như biến mất hoàn toàn.
Không gian trong
điều kiện ngược sáng được thể hiện thông qua sự tăng dần độ sáng về chiều sâu
nhờ việc tái hiện tốt môi trường không khí.
Ánh sáng ngược làm
nổi bật rõ ràng đường viền của các hình thể và vật thể. Tuy nhiên, khối của
chúng được thể hiện kém thuyết phục hơn so với ánh sáng bên. Ngược lại, các chất
liệu như bề mặt thô, bóng hoặc phản chiếu gương lại được thể hiện rất tốt trong
điều kiện này.
Đường nét của
sóng được thể hiện một cách giàu tính tạo hình trong bức ảnh tràn ngập ánh sáng
mặt trời- Ảnh: Phạm Thanh Hà.
Chụp
ảnh trong điều kiện ánh sáng tán xạ. Ánh sáng tán xạ
chung chiếu lên đối tượng tạo ra mức chiếu sáng gần như одинаково trên toàn bộ
khung hình. Hình ảnh trên lớp nhạy sáng được hình thành chỉ nhờ sự khác biệt về
sắc độ và màu sắc vốn có của các vật thể và hình thể, tức là nhờ sự khác nhau về
độ sáng của các phần riêng biệt trong đối tượng chụp.
Nếu đối tượng chụp
bao gồm nhiều màu sắc và sắc độ khác nhau, được sắp xếp trong khung hình một
cách ngẫu nhiên, thì ánh sáng tán xạ chung sẽ không mang lại kết quả tốt. Bức ảnh
sẽ trở nên rối mắt, quá tải chi tiết, và hình ảnh sẽ giống với trường hợp chụp
bằng ánh sáng trực diện.
Tuy nhiên, trong
điều kiện ánh sáng tán xạ chung vẫn có thể thu được những hình ảnh rất thú vị
và giàu tính tạo hình, nhưng khi đó yếu tố tổ chức phải là sự hòa hợp về màu sắc
và sắc độ của chính đối tượng chụp. Nhiếp ảnh gia cần biết lựa chọn các mô-típ
phong cảnh phù hợp và làm nổi bật đặc điểm sắc độ của chúng bằng ánh sáng tán xạ
cùng với các kỹ thuật chụp khác, xử lý phim và cả quá trình in ảnh.
Trong ảnh trên “Đơn lẻ”-
Phạm Thanh Hà ta thấy đối tượng gần như đơn sắc — hiệu ứng này được tạo nên bởi
lớp sương mỏng bốc lên từ mặt biển vịnh Hạ Long Việt Nam một ngày mù sương. Sự
thống nhất về sắc độ đã có sẵn trong chính đối tượng chụp. Ánh sáng tán xạ
chung giúp làm nổi bật những hài hòa tông nhẹ nhàng của phong cảnh và tạo nên
tông sáng tổng thể cho bức ảnh. Khi chụp phim các nhiếp ảnh gia có thể tăng cường
hiệu quả này bằng các thủ pháp sau: tăng thời gian phơi sáng khi chụp gấp đôi; khi
tráng phim âm bản thí dụ 15 phút thay vì 12 phút ... khi in, chọn thời gian phơi sáng chính xác
(qua thử nghiệm bậc thang) và rút ngắn thời gian phóng ảnh dương bản thí dụ,1,5
phút thay vì 2 phút. Kết quả là thu được một dải sắc độ mềm mại và tông sáng
chung cho bức ảnh.
Trong ánh sáng tán
xạ cũng có thể đạt được những kết quả khác, nhưng chúng vẫn phụ thuộc vào sắc độ
và ánh sáng của đối tượng chụp. Bức ảnh “Du thuyền Bardot trên sông Seine”, tác
giả Phạm Thanh Hà được xây dựng trên sự tương phản cao: tông tối của mặt nước
được đặt cạnh tông trắng của tuyết. Nhiếp ảnh gia đã tìm được điểm chụp sao cho
ở tiền cảnh xuất hiện những tương phản sắc độ mạnh nhất, còn ở chiều sâu khung
hình, các tương phản được làm mềm đi. Sự đối chiếu sắc độ như vậy làm nổi bật
chiều sâu không gian của đối tượng, khiến hình ảnh có nhiều lớp. Tác giả muốn sử
dụng mảng đen, nặng nề để miêu cả mùa đông cũng như “tâm trạng” của chiếc thuyền
buồn lặng trong mùa đông vắng chủ.
Sự
kết hợp giữa ánh sáng định hướng và ánh sáng tán xạ.
Trong thực tế ngoại cảnh, việc chụp ảnh thường xuyên hơn diễn ra trong điều kiện
mà ánh sáng mặt trời định hướng kết hợp với ánh sáng tán xạ từ bầu trời. Hướng
của tia nắng quyết định hình dạng và cách phân bố của sáng – tối; còn lượng ánh
sáng tán xạ quyết định mức độ tương phản của cấu trúc sáng – tối đó.
Cần chú ý đến sự khác nhau về thành phần quang phổ giữa ánh sáng mặt trời trực tiếp và ánh sáng tán xạ của bầu trời. Sự khác biệt về màu sắc của chúng cần được tính đến khi làm việc với kính lọc màu. Như đã известно, ánh sáng tán xạ của bầu trời có màu xanh lam, còn ánh sáng ban ngày quen thuộc với chúng ta là màu trắng.
Màu xanh của ánh sáng tán xạ thể hiện rõ nhất ở các vùng bóng, đặc biệt khi những vùng này có màu trung tính. Ngay trong một lần đi trượt tuyết, bạn hãy chú ý quan sát các bóng đổ trên tuyết: chúng có sắc xanh lam rất rõ. Điều này đặc biệt nhận rõ vào mùa xuân, khi màu xanh của bầu trời trở nên sáng hơn. Các vùng bóng chỉ được chiếu sáng bởi ánh sáng tán xạ của bầu trời, mà ánh sáng này có màu xanh hoặc xanh lam tùy theo trạng thái của khí quyển. Vì vậy, các bóng đổ mang sắc xanh.
Trên
đỉnh Les Sybelles ở Savoie, Pháp. Ảnh: Phạm Thanh Hà
Sự
thay đổi tính chất chiếu sáng ngoại cảnh theo thời gian trong ngày.
Đã biêt rằng theo thời gian trong ngày, vị trí của mặt trời so với đối tượng chụp
thay đổi, và do đó cấu trúc sáng-tối cũng thay đổi. Hướng của bóng đổ, hình dạng
của chúng, độ tương phản, mối tương quan sắc độ trong khung hình và tông chung
của hình ảnh đều biến đổi. Nếu xem cấu trúc ánh sáng và sắc độ như những phương
tiện của giải pháp tạo hình nghệ thuật, thì sẽ mở ra hướng nghiên cứu các khả
năng của ánh sáng thông qua việc nghiên cứu
cấu trúc và tông sắc của các khung hình chụp ở những thời điểm khác nhau
trong ngày.
Toàn bộ thời gian
chụp trong ngày có thể chia thành mấy giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm ánh
sáng riêng và cho phép tạo ra sắc thái đặc trưng của bức ảnh.
Ánh
sáng lúc chạng vạng (bình minh/hoàng hôn sớm).
Để làm quen với hiệu ứng ánh sáng thú vị này, cần phải dậy rất sớm, khi mặt trời
chưa nhô lên khỏi đường chân trời. Lúc này, ánh sáng mặt trời trực tiếp chưa
chiếu tới đối tượng, và độ chiếu sáng chỉ được tạo ra nhờ ánh sáng tán xạ trong
khí quyển. Ánh sáng mềm, tán xạ… Dải sắc độ trầm, thấp…
Mức chiếu sáng trong điều kiện chạng vạng rất thấp. Tuy nhiên, bầu trời lại trở thành một nền đủ sáng trong khi các vật thể trên mặt đất vốn đang tối. Nhờ đó hình thành các hình ảnh dạng silhouette (hình bóng) hoặc bán silhouette, rất thu hút như bức ảnh "Bình minh gần quân cảng Toulon"( Ảnh: Phạm Thanh Hà) dưới đây
Tuy nhiên, ánh
sáng chạng vạng không chỉ xuất hiện vào những giờ sáng sớm. Mặt trời lặn xuống
dưới đường chân trời vào buổi tối, và theo logic, bức tranh ánh sáng lúc này phải
giống với buổi sáng, bởi vì góc chiếu của mặt trời và sự phản xạ của tia sáng
trong các lớp khí quyển là như nhau.
Ánh
sáng gây ấn tượng mạnh, bắt mắt (ấn tượng).
Khi mặt trời đã nhô lên khỏi đường chân trời (hoặc hạ xuống gần đường chân trời),
các tia sáng của nó bắt đầu chiếu vào các vật thể trên mặt đất, tạo nên những
điểm lóe sáng và bóng đổ. Trước hết, các bề mặt thẳng đứng được chiếu sáng, còn
các bề mặt nằm ngang vẫn còn trong bóng, nhưng lúc này đã được chiếu nhẹ bởi lượng
ánh sáng tán xạ từ bầu trời nhiều hơn. Khi đó xuất hiện một cấu trúc sáng – tối
rõ ràng, tạo nên những hiệu ứng ánh sáng rất nổi bật.
Giai đoạn ánh sáng
ấn tượng này khá ngắn. Mặt trời nhanh chóng lên cao hoặc hạ thấp xuống đường
chân trời. Chẳng bao lâu, ánh sáng buổi sáng với những bóng dài xiên và lớp
sương mỏng nhẹ sẽ nhường chỗ ánh sáng ban ngày bình thường, ổn định hơn. Tuy
nhiên, khoảng thời gian ngắn này (khi góc cao của mặt trời không quá 15°) cần
được tận dụng tối đa cho chụp ảnh, bởi vì trong thời điểm này cấu trúc sáng – tối
thay đổi nhanh, sự cân bằng ánh sáng và độ tương phản cũng thay đổi, tạo điều
kiện cho việc tạo ra những bức ảnh rất đa dạng và giàu sức truyền đạt cảm xúc bằng
thị giác về ánh sáng.
Độ tương phản sáng
– tối trong giai đoạn ánh sáng ấn tượng tương đối không cao. Đường đi của tia nắng
mặt trời trong khí quyển lúc này khá dài, vì vậy lượng ánh sáng tán xạ trong
khí quyển lớn. Các vùng bóng nhận được sự chiếu sáng bổ sung tốt. Đồng thời,
các tia nắng trực tiếp cũng bị suy yếu đáng kể khi đi qua khí quyển. Ngoài ra,
vào buổi sáng và buổi tối thường xuất hiện một lớp sương mỏng nhẹ phía trên mặt
đất, cũng góp phần làm dịu độ tương phản và bản thân nó trở thành một yếu tố
giàu tính biểu cảm, có sức truyền đạt mạnh
trong bức ảnh.
Ánh
sáng bình thường. Ánh sáng “bình thường” là loại ánh
sáng được sử dụng phổ biến nhất trong quá trình chụp ảnh. Khi mặt trời lên cao
trên đường chân trời khoảng trên 15°, bức tranh ánh sáng trở nên tương đối ổn định
và trong một thời gian dài không có thay đổi đáng kể, cho đến khi mặt trời đạt
độ cao khoảng 60°.
Trong suốt khoảng
thời gian này, trên đối tượng luôn tồn tại một cấu trúc sáng – tối giàu tính biểu
cảm, có sức truyền đạt mạnh , được làm mềm vừa phải bởi ánh sáng tán xạ của bầu
trời. Các bóng đổ dần ngắn lại, nhưng cấu trúc sáng – tối vẫn giữ được tính tạo
hình và sức truyền đạt cảm xúc bằng thị giác , thể hiện rõ khối, chất liệu và vị
trí không gian của các vật thể và hình thể.
Ánh
sáng mặt trời ở đỉnh đầu Chúng ta đã nhiều lần thấy
rằng khi mặt trời ở vị trí đỉnh thiên, việc chụp ảnh trở nên khó khăn. Lúc này,
ánh sáng mặt trời chiếu gần như thẳng đứng xuống đối tượng, bóng đổ rất ngắn và
độ tương phản của chúng cao.
Độ tương phản sáng
– tối trong điều kiện này tăng lên do đường đi của tia nắng trong khí quyển ngắn
hơn. Kết quả là ánh sáng trực tiếp ít bị suy yếu khi đi qua lớp không khí và tạo
ra độ sáng rất cao trên các bề mặt được chiếu sáng. Đồng thời, lượng ánh sáng
tán xạ cũng giảm, vì trong quãng đường ngắn đó, các tia sáng ít bị tán xạ hơn.
Sự cân bằng chiếu
sáng giữa các bề mặt thẳng đứng và nằm ngang thay đổi mạnh: các bề mặt thẳng đứng
nhận ít ánh sáng hơn nhiều so với các bề mặt nằm ngang. Từ đó lại xuất hiện các
tương phản mạnh trong cấu trúc ánh sáng. Bầu trời cũng trở nên rất sáng, và do
sắc trắng nhạt của nó, khó giảm độ sáng ngay cả khi dùng kính lọc. Nói chung,
trong thời điểm này khó mong đợi những bức ảnh giàu tính tạo hình, trừ trường hợp
đặc biệt, nếu có thể, tốt nhất nên hoãn việc chụp ảnh lại.
Như vậy, tính chất chiếu sáng ngoài trời trước tiên phụ thuộc
vào hai yếu tố quan trọng: độ cao của mặt trời so với đường chân trời và hướng
chiếu của các tia sáng lên đối tượng. Sau này chúng ta sẽ còn nói thêm về trạng
thái khí quyển, lớp sương mờ, đặc điểm của mây trên bầu trời và các yếu tố khác
ảnh hưởng đến cấu trúc ánh sáng. Nhưng ngay cả những điều kiện ánh sáng đã phân
tích cũng đủ cho thấy sự đa dạng của các hiệu ứng chiếu sáng trong tự nhiên. Và
tương ứng, các bức ảnh cũng cần đa dạng về giải pháp ánh sáng.
Từ tất cả những điều
đã nói, có thể rút ra một kết luận quan trọng: ánh sáng là một phương tiện chủ
động và linh hoạt trong việc tạo nên một bức ảnh giàu tính tạo hình và trong
quá trình chụp cần được khai thác một cách toàn diện. Nhờ ánh sáng, người ta thể
hiện được không gian, khối và đường viền của các hình thể và vật thể, địa hình
và chất liệu bề mặt. Ánh sáng cũng là công cụ để giải quyết các nhiệm vụ nghệ
thuật, mang lại cảm xúc cho bức ảnh. Mục tiêu cuối cùng của quá trình sáng tạo
này là tạo ra những tác phẩm nhiếp ảnh mang tính nghệ thuật hoàn chỉnh.
Dưco L.P
















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét