Thứ Hai, 2 tháng 12, 2019

MỘT LẦN THEO CHÂN NGUYÊN SOÁI CÔNG BINH LIÊN XÔ S. AGANOV


Thời gian như một dòng thác bỗng chốc xóa nhòa tất cả từ cuộc sống cho đến ký ức. Thời gian cũng như mạch nước ngầm len lỏi trong kẽ đá, lặng lẽ bào mòn những kỷ niệm sâu xa. Quãng đời lính gần 6 năm chưa một lần trực tiếp cầm súng bắn quân thù của tôi chẳng có gì đáng kể nếu đứng bên những người lính ngực đầy huân chương và những người anh hùng trở về không lành lặn. Gần 6 năm cũng là một phần đáng kể của tuổi thanh xuân tôi chủ yếu tập tành, chém tre đẵn gỗ trên rừng làm doanh trại, phần còn lại của đời lính làm nhân viên câu lạc bộ thuộc ban tuyên huấn nhà trường, loong tong phụ quay rồi đi học. Dẫu là một người lính theo đúng nghĩa nhưng chưa một vết tích chiến công nhưng tôi vẫn cám ơn những tháng năm gian khổ ấy đã giúp cho tôi những trải nghiệm cuộc sống, hình thành tư duy quan sát để cùng những kiến thức học vấn sau này để làm nên những khuôn hình phim có ý nghĩa, những trang sách, bài báo, bức ảnh mang hơi thở từ cuộc sống. Cám ơn rất nhiều những năm tháng đời lính của tôi ...
Nhớ lại ngày tòng quân, lính mới cứng chúng tôi gọi mấy anh binh nhất là ... thủ trưởng
. Sau lần xỏ giầy làm lính huấn luyện nhìn và sợ A, B, C trưởng hơn sợ cha, chào thủ trưởng trung đoàn, sư đoàn như ngước lên mặt trời. Nhưng rồi theo năm thánh mọi thứ đều trở nên bình thường, với anh em đồng đội trên dưới dần trở nên thân thương. Lính mà.
Quả thật trong đời lính tôi có 1-2 lần gặp một người quen cũ là anh Tào là sư phó sư 354. Sau này may mắn hơn được gặp và gần gũi với vị đại tá hiệu trưởng một trường đại học trong quân đội. Gần gũi đến mức thứ 7 hàng tuần ông còn cho ngồi lên Uat chở về Hà Nội để làm mối tôi với cô con gái nhà hàng xóm bạn ông. Và cô ấy rồi cũng được mệnh danh là "sư tử cái Hà Đông" trong nhà tôi hiện nay. 
Cứ tập tọe chụp ảnh, phụ quay phim rồi không ngờ lại có dịp chạy theo một vị nguyên soái từ Liên Xô đến. Thời 1980- 1990 quan hệ Việt Nam- Liên Xô là hòn đá tảng. Các ngành đều có chuyên gia Liên Xô, trong quân đội có cố vấn Liên Xô tới cấp quân khu, quân binh chủng. Trong kháng chiến chống Mỹ Liên Xô và Trung Quốc là anh Cả, anh Hai của phe Xã hội chủ nghĩa. Liên Xô và Trung Quốc giúp ta từ tên lửa, xe tăng, súng đạn cho đến áo quần, thịt hộp, bột mỳ để miền Bắc làm hậu phương cho miền Nam đánh Mỹ- Ngụy. Liên Xô và Trung Quốc thân thiết đến nỗi có cả những câu vè vui trong dân gian 
Ông Liên Xô
Bà Trung Quốc 
Ông đi guốc
Bà đi giầy
Ông nhảy dây
Bà đá bóng 
Ông chiếu bóng
Bà quay phim
Ông giật mìn
Bà ngã ngửa 
.... 
Quan hệ Trung- Xô từ đồng chí anh em những năm 50-60 thế kỷ trước trở nên căng thẵng, coi nhau như kẻ thù từ giữa thập kỷ 60. Việt Nam như bơi giưã hai làn nước một thời gian dài, đến những năm 70 trở đi thì buộc phải dựa hẳn vào Liên Xô. Khi kháng chiến chống Mỹ gần thắng lợi mối quan hệ ruột thị Việt - Trung thành ra môi hở răng lạnh. Thế là ta mất Hoàng Sa. Sau khi Sài Gòn giải phóng, Trung Quốc ủng hộ diệt chủng Pôn Pốt rồi 17/2/1979 tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam; Thế là răng cắn vào môi ... Trung Quốc coi Liên Xô theo chủ nghĩa bá quyền trên thế giới, còn Việt Nam là "tiểu bá" khu vực ... 
Nhờ có Liên Xô ta có máy bay tên lửa, chiến thắng B52. Liên Xô giúp Việt Nam sức mạnh vật chất và tri thức để chiến đấu và xây dựng đất nước. Liên Xô là thần tượng về xã hội tươi đẹp, về tình quốc tế vô sản. Chả thế mà hình ảnh đất nước và con người Liên Xô trên họa báo, trên phim ảnh, ca khúc... luôn được người Việt Nam háo hức đón đợi. Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc của Việt Nam được Liên Xô ủng hộ tuyệt đối từ những ngày đâù tiên. Chuyến công tác của Nguyên soái Công binh Liên Xô Sergey Hristoforovich Aganov (Tháng 6-7/1984) là một trong rất nhiều những hoạt động cụ thể của quân đội Liên Xô tại Việt Nam. Dù chỉ là anh phụ quay tập sự cầm đèn đeo ắc quy
xút ăn da” (Ắc quy chứa nước xút ăn da, hộp gỗ, nặng và rách việc nếu nước xút rây ra áo quần) theo chân quay phim Đỗ Mạnh Đức nhưng tôi cũng được biết đoàn sang để giúp ta trong các lĩnh vực cầu phà thời chiến và công trình ngầm ở biên giới phía Bắc để phục vụ chiến đấu chống Trung Quốc ...Nhiệm vụ quay phim tư liệu Nguyên soái công binh Liên Xô sang thăm và làm việc tại Việt Nam do Xưởng phim quân đội nhờ Điện ảnh Bộ đội Biên phòng thực hiện. Công việc đặc biệt quan trọng. Hơn thế nữa hồi ấy ai nhìn các đồng chí chuyên gia dân sự, cố vấn quân sự Liên Xô thuở ấy cũng đều quý mến và ngưỡng mộ. Huống chi đây là lần đầu tiên có một vị Nguyên soái binh chủng từ Liên Xô đến. Về sau sang Liên Xô học chúng tôi được biết thêm trong quân đôi Xô Viết đứng đầu là các Nguyên soái Liên Xô, sau nữa là các Đại tướng quân đội, mỗi quân binh chủng như thiết giáp, thông tin, tên lửa, phòng không, không quân ... đều có một vị nguyên soái tư lệnh binh chủng. 
Từ sáng sớm chúng tôi đã tập trung tại Bộ Tư lệnh Công binh. Một đoàn xe quân sự hùng hậu chưa từng có thời ấy gồm hơn 40 xe uat, dẫn đầu là mấy xe của cán bộ quân sự cấp cao quân đội Việt Nam, xe Bộ Tổng tham mưu, Tùy viên quân sự Liên Xô ... xe dẫn đường, xe thông tin, xe đội danh dự ... như một cuộc diễu binh lớn hùng dũng tiến đến Nội Bài đón Nguyên soái. 
Sân bay Nội Bài hồi ấy mới thành lập, nhà ga chưa đồ sộ như bây giờ bỗng nhiên được trang hoàng bởi một cuộc nghi lễ gần như cấp quốc gia. Lớp lớp chiến sỹ thẳng tắp bồng súng đứng chào, đôi hàng nghiêm trang là các sỹ quan cấp cao của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, của binh chủng công binh do Thiếu tướng Tư lệnh Trần Bá Đặng dẫn đầu. Phóng viên quay phim, chụp ảnh, cây viết thì nhiều không đếm xuể. Tuy nhiên nghi lễ đón rước cấp cao nhất của nhà binh đã không diễn ra vì lẽ S. Aganov và các tùy tùng của ông đều ăn mặc dân sự sang Việt Nam trong một chuyến bay của Hàng không Xô Viết Aeroflot. Sau khi hành khách chuyến bay xuống hết, Nguyên soái Aganov lớn tuổi nhất cùng các sỹ quan trong đoàn mặc áo khoác sáng với bộ đồ trắng như các chuyên gia xô viết bình thường ở Việt Nam bước xuống cầu thang máy bay. Sau vài lời hỏi han, nhận dạng các thành viên phái đoàn cũng được nhận những cái bắt tay kèm theo bó hoa tươi thắm rồi lên xe. Tiếng còi hụ của xe dẫn đường lại vội vã đưa đoàn xe hơn 40 chiếc rồng rắn quay trở về đường Đội Cấn. 
Cuộc đón tiếp trọng thể được diễn ra tại Bộ Tư lệnh Binh chủng Công binh. Trung tướng Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Lê Ngọc Hiền, Tư lệnh Binh chủng Công binh Việt Nam cùng nhiều tướng tá khác. Về phía bạn còn có Tùy viên Quân sự Liên Xô tại Việt Nam, thiếu tướng Đavưđôp (Hình như ...). Đi theo Nguyên soái Aganov còn có 4-5 sỹ quan cao cấp nữa, trong đó có hai đại tá cầm theo các sổ tay nhỏ, máy ảnh Zoorki, Kiev ghi chép và chụp lia lịa các bản đồ quân sự của ta mới được căng ta để trình bày. Sau khi chào đón đồng chí Nguyên soái Tư lệnh binh chủng, Trung tướng Lê Ngọc Hiền mời các vị khách quý uống nước và ăn nhẹ hoa quả và bánh trái. Ông còn chân tình nói:- Mời các đồng chí ăn món lạc rang nhưng nhớ ăn cả vỏ cho dễ tiêu (?)... Chỉ sau đó chưa đến 10 phút, mọi người chưa kịp nói chuyện và ăn nhẹ xong đã được mời làm việc ngay. Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng còn nhẹ nhàng nói: - Các cháu quay phim chụp ảnh ra ngoài, không được chụp vì trong phòng có các bản đồ quân sự.
Lạ nhỉ ? Các bạn thì chụp vô tư, còn với ta thì giữ bí mật (?) 
Những ngày sau tôi còn được đi theo anh quay phim Đỗ Mạnh Đức quay các hoạt động của đồng chí Nguyên soái tại Trường Kỹ thuật Công Binh ở Trung Hà, đến một lữ đoàn công binh (Ở đâu đó gần Hà Nội giờ tôi không nhớ). 
Đi theo đoàn làm việc của Nguyên soái Aganov có vài buổi nhưng tôi cũng có bài học nhớ đời của anh phụ quay trẻ dại đi học nghề. Mang theo 2 đèn thái dương cầm tay 2500 w rất sáng và nóng, tôi luôn "sáng tạo" dùng cả hai, tay dùng đèn chiếu một bên cho có ánh sáng chủ, tay kia chiếu sáng thuận theo hướng ống kính. Tại hội trường Trường Kỹ thuật Công binh, sự máy móc của tôi đã gây ra sự cố không đang có. Khi anh Đức giương máy quay lên chực bấm, tôi đứng ngay gần Nguyên soái bật 1 lúc cả 2 đèn. Chuẩn bị bắt đầu bài phát biểu, Aganov lặng người 1 chút, chắc vì lóa mắt, rồi ông nói: 
- Đề nghị không chiếu thẳng đèn vào mắt tôi. 
Cả hội trường vài trăm người ngồi phía dưới cười ồ... Tôi ngượng quá ! Ngượng đến tận bây giờ. 
Trước khi đoàn rời Hà Nội anh Đức còn được giao quay buổi Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Lê Trong Tấn tiếp đoàn Công binh Liên Xô tại nhà khách Bộ Quốc phòng 33 Phạm Ngũ Lão. Chiếc máy ARRI2 hàng ngày anh quay không ai để ý, nhưng tối hôm đó bỗng kêu to như chiếc máy cưa đá. Có lẽ do hàng ngày nó ghi hình trong điều kiện ồn ào, khách khứa nhộn nhịp, khác với không khí yên tĩnh của phòng tiếp khách tối hôm đó. Đây là chiếc máy quay chiến lợi phẩm tại chiến trường Campuchia do một phóng viên Thái lan bỏ của chạy lấy người trong chiến sự. Sau đó nó được giao cho các phóng viên điện ảnh Công an vũ trang, sau này là Điện ảnh Bộ đội Biên phòng ... 
Cũng như tôi được chứng kiến tại chiến trường Hà Giang trước đó. Phái đoàn bạn sang Việt Nam làm việc đi đâu cũng được đón tiếp nồng nhiệt. Điều đó các đồng chí Liên Xô rất cảm động. Phía bạn rất giản dị và chân thành. Trong khi Bộ Tư lệnh Công binh Việt Nam tặng quà gì đó hộp xanh đỏ rất đẹp cho phái đoàn Liên Xô thì Nguyên soái Aganov tặng ta chiếc xẻng công binh bình thường bọc trong gói giấy màu xi măng- món quà bình thường quá đỗi nhưng cũng đủ ý nghĩa biểu tượng. Các thành viên phái đoàn ngại nhất trong chuyến đi nhất là khoản "đánh chén" linh đình, ăn uống thậm chí còn hơn cả náo nhiệt nữa. Đến cũng chén, đi cũng ... lại chén. Tôi nhìn thấy các vị khách quý mấy lần nhìn nhau mắt tròn xoe cứ mỗi lần thấy mâm bát ...
Tập quán cỗ bàn khách 3 chủ nhà 7 còn được nối tiếp và phát huy hiệu quả chiều rộng cũng như chiều sâu cho đến tận ngày hôm nay. 
Theo kế hoach, anh Đức và tôi còn được lên máy bay quân sự ra Cam Ranh nhưng đến phút chót phía bạn không đồng ý nhiều thành phần ăn theo của ta. Cam Ranh hồi ấy hoàn toàn là căn cứ quân sự của Liên Xô, có tàu ngầm cùng nhiều khí tài đặc biệt khác mà Việt Nam chưa có. Phải 10 năm sau, khi học xong về nước, tham gia đoàn phim tái liệu nhựa "Đường mòn trên biển Đông" tôi mới được cùng các đạo diễn Lê Thi, Phạm Huyên, các nhà quay phim Lưu Quỳ, Nguyễn Tuấn, Xuân Tình đặt chân đến Cam Ranh, đi trên đường băng sân bay quân sự tại vịnh biển đặc biệt quan trọng về mặt quân sự này. Liên Xô khi đó đã tan rã và nước Nga đã rút sự hiện diện quân sự tại vùng đất này.

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2019

NGHỆ THUẬT QUAY PHIM TRONG “CITIZEN KANE” (Bài ST)

Bộ phim “Citizen Kane” ( Công dân Kane ), phát hành năm 1941, đạo diễn bởi Orson Welles ( được biết tới với Citizen Kane, và sau này là Touch of Evil ( 1958 ), F for Fake ( 1973 ) ), quay phim Gregg Toland.
 “Citizen Kane” kể về cuộc đời của nhân vật giả tưởng Charles Foster Kane – ông trùm báo chí của Hoa Kỳ và là một trong những người giàu có nhất thế giới. Như vậy liệu chăng “Citizen Kane” đơn thuần chỉ là một bộ phim tiểu sử với những cách làm thông thường đã dần đi vào lối mòncủa Hollywood vào những năm 30 ? Điều đã khiến “Citizen Kane” trở nên đặc biệt, được viện điện ảnh Mỹ ( American Film Institute ) ca tụng là “bộ phim Hollywood tuyệt vời nhất từng lên màn ảnh”, nằm ở việc bộ phim chính là một sự hòa trộn, sự kết hợp của rất nhiều những kĩ thuật làm phim khác nhau: Lối kể chuyện bắt đầu từ kết thúc theo mạch thời gian, thoại chồng liên tiếp với nhau,.. và hiển nhiên khi nhắc tới “Citizen Kane’, ta không thể không nhắc tới khía cạnh hình ảnh. Có thể, những kĩ thuật về quay phim, về hình ảnh trong “Citizen Kane” không mới: trường nét sâu, ánh sáng chiaroscuro, những góc máy cực đoạn, cú máy dài,… Vậy nhưng, vào thời điểm ấy, việc đưa tất cả những kĩ thuật này vào trong cùng một bộ phim thì lại là một điều hoàn toàn đặc biệt, tạo ra một trải nghiệm hoàn toàn mới đối với người xem.Bài viết sẽ trình bày về những điểm nhấn nổi nhật bất về hình ảnh, về quay phim mà Orson Welles cùng với Gregg Toland đã cùng nhau tạo dựng nên và đưa vào bộ phim: Trường nét sâu, Góc máy, Ánh sáng, Cảnh quay dài.

 TRƯỜNG NÉT SÂU (DEEP FOCUS)
Việc sử dụng trường nét sâu có lẽ là yếu tố luôn luôn được nhắc tới đầu tiên và nhiều nhất khi ta nói về “Citizen Kane”. Với kĩ thuật này, ở trong khung hình, toàn bộ các vùng không gian ( tiền cảnh, hậu cảnh, chính cảnh ) đều được nét, thấy rõ mọi chi tiết.
Ở trong cuốn A History of Narrative Film của David Cook, ông có viết rằng: “Wells lên kế hoạch tạo ra một bộ phim với hàng loạt những cảnh quay, những phân đoạn quay dài, được bố cục để tạo ra chiều sâu một cách chặt chẽ, nhằm hạn chế việc phải cắt cảnh ở những sự kiện kịch tính trong phim. Để tạo được hiệu quả này, Toland đã đưa ra cho Wells một giải pháp hình ảnh là trường nét sâu để tạo ra một độ nét “tuyệt đối” trong khuôn hình.”
Trường nét sâu là một cách làm rất hiệu quả để đưa được nhiều thông tin và hành động vào trong một cảnh phim, tạo ra một sự liền mạch và liên kết về mặt không gian trong cảnh, của chủ thể chính, của tiền cảnh và hậu cảnh; tạo ra một cảm giác về một không gian “thực” trong phim đối với người xem. Như nhà phê bình phim James Naremore vào năm 2004 đã từng viết: “Trường nét sâu có thể tạo ra tính “liên tục” của hiện thực trong phim và hiệu ứng hình ảnh không gian ba chiều ấy có thể tạo ra cho khán giả một cảm giác như đang được xem một “không gian thực””.
Về mặt kĩ thuật, để có thể thực hiện được kĩ thuật này, Gregg Toland đã sử dụng một hệ thống máy quay được chế tạo đặc biệt, với ống kính Vard Optical giúp hạn chế được độ chói của ánh sáng ( glare ) và tăng lượng ánh sáng đi qua ống kính, kết hợp cùng với phim Kodak Super XX, phim nhanh nhất thời bấy giờ.
Để sử dụng được hiệu quả trường nét sâu, ngoài công tác kĩ thuật, đạo diễn và quay phim phải cùng nhau phối hợp về dàn cảnh – ánh sáng – chuyển động, động tác máy để tạo ra một không gian phim nơi người xem có thể cảm nhận được một cách liền mạch, “thực” nhất.
Ví dụ về việc sử dụng trường nét sâu trong phim:


Đây là cảnh quay có lẽ là nổi tiếng nhất trong “Citizen Kane”, về việc sử dụng trường nét sâu phối hợp cùng chuyển động máy cùng dàn cảnh nhân vật. Lúc này Kane vẫn còn bé, và đây là cuộc hội thoại giữa cha mẹ cùng với ông Thatcher – người bảo hộ cho Kane từ giờ về sau về khoản tiền, về tương lai của Kane.
Cảnh quay được bắt đầu với Charles Foster Kane khi còn bé đang chơi một mình ngoài trời tuyết, máy lùi lại, thấy được người mẹ và ông Thatcher đang đứng cạnh cửa sổ, chuyển từ góc máy chủ quan sang góc máy khách quan. 
Máy tiếp tục lùi cho tới khi người mẹ và ông Thatcher ngồi xuống bàn làm việc, ông bố vẫn đứng ở một góc, và Kane vẫn chơi ở phía đằng xa ngoài trời tuyết.
Với việc sử dụng trường nét sâu, ta có thể thấy rõ được mọi việc đang diễn ra ở các vùng không gian khác nhau trong cảnh. Ở tiền cảnh và là chủ thể, người mẹ và ông Thatcher làm việc, nói chuyện về giấy tờ, tiền bạc, cũng như về tương lai của Kane, người cha đứng ở một góc – là người không có tiếng nói trong gia đình, còn Kane ở phía đằng xa vẫn đang đùa nghịch trong tuyết, được bố cục trong một khung cửa sổ khác, nơi có những người lớn bao quanh – rõ ràng số phận hay tương lai của Kane, quyền quyết định đang nằm trong tay của người lớn.

Ở cuối cảnh là một xử lí rất hay của đạo diễn khi để người cha đi ra về phía cửa sổ, đóng cửa lại, nhưng ngay sau đó, máy quay đi theo người mẹ, mở cửa sổ ra. Theo một cách nào đó, hành động của nhân vật cũng như chuyển động của máy quay cho khán giả thấy được phần nào về thái độ của người cha và người mẹ đối với Kane. 

Ở một cảnh quay khác về cuối phim, khi Kane phát hiện ra người đồng nghiệp của mình là Leland đang say, đang viết dở một bài viết phê bình thậm tế về người vợ Susan của mình – một diễn viên hát opera. Kane đã quyết định tự chính mình viết lại bài báo này. 

                Cảnh ngay liền sau đó là một cảnh góc máy cao, Kane bị bao quanh bời ông Thatcher và những người giúp việc trong nhà. Kane quãngthời gian còn bé hoàn toàn bị kiểm soát, bị lấn át.
Thế nhưng, ở những cảnh quay sau đó, khi Kane đã gần đủ tuổi để sở hữu khối tài sản, và Kane quyết định sẽ mua lại tòa soạn và bắt đầu quyết định con đường độc lập của mình. Dù trong hình không hề có Kane và chỉ có ông Thatcher, thế nhưng góc máy lúc này là những góc máy trung bình, góc máy thấp, cho thấy được vị thế của Kane lúc này rất độc lập, ngang bằng, vượt ngoài tầm kiểm soát của người bảo hộ của mình là ông Thatcher.

Một cảnh quay tiêu biểu khác nữa trong việc sử dụng góc máy trong “Citizen Kane” chính là một cảnh quay với góc máy rất thấp, sau khi chuyện tình của ông và Susan được công bố, con đường chính trị của Kane chính thức sụp đổ, Kane đi vào tòa soạn, đối thoại với Leland. 

Để thực hiện được góc máy này, trên trường quay, đoàn làm phim đã phải đào hố dưới sàn nhà để có thể đặt được máy quay.





Thứ Ba, 4 tháng 9, 2018


           Khuôn hình nhiếp ảnh 

                                                                  NSƯT-NSNA Phạm Thanh Hà 
Nhiếp ảnh đã vượt qua cái ngưỡng để làm sao lưu giữ được hình ảnh của vật thể qua tác dụng của ánh sáng... và là chiếc máy không cần bút vẽ   như mục đích ban đầu của Niepce và Daguere trong nửa đầu thế kỷ 19 đã phấn đấu. Phía trước khung ngắm máy ảnh không chỉ là là những gì nhiếp ảnh gia nhìn thấy mà là kết quả của sự quan sát. Hiện thực được tái tạo bằng hiệu ứng ánh sáng, độ tương phản, tông màu. Nhưng trước hết và trên hết là bố cục các yếu tố hình thức trên mặt phẳng.
Theo Berthold  Beiler, quá trình sáng tác ảnh của nhiếp ảnh gia được tiến hành theo ba bước:
-         Bước 1: Trong số vô vàn vật thể có mặt trên hiện trường người chụp ảnh chọn một đối tượng và định xử lý nó như thế này hoặc thế kia …một cách hợp lý và có thẩm mỹ.
-         Bước 2: Tùy theo tính chất thẩm mỹ mà người chụp muốn làm sáng tỏ hay muốn nâng cao trong bức ảnh, trong giây lát anh ta phải nắm bắt được và đưa vào “nguồn sáng thích hợp”
-         Bước 3: Vận dụng kỹ thuật để chuyển hóa ý đồ tư tưởng vào trong một bố cục ưng ý. (Suy nghĩ về nhiếp ảnh, NXB Văn hóa 1986- Trang 35)
Nhiếp ảnh ban đầu tiếp thu những nguyên lý tạo hình từ hội họa. Nhưng chính nhiếp ảnh cũng đem lại cho hôi họa những khái niệm mới và một trong những cái mới đó là Khuôn hình. Đối với hội họa cho đến tận thời Ấn Tượng kích thước các chủ thể (nhân vật chính ) của bức tranh này so với bức tranh kia chẳng khác là bao. Các họa sĩ thường bằng lòng với kiểu bố cục “dàn cảnh tổng quan”- cái nhìn toàn cảnh,  các nhân vật vẽ ở hàng phía trước của tranh thường được vẽ đủ từ đầu đến chân. Khuôn hình tranh khá ước lệ, tạo ra ấn tượng là các nhân vật đang diễn kịch trên nền sân khấu. Cuối thế kỷ 19 khi nhiếp ảnh ra đời khái niệm khuôn hình bắt đầu xuất hiện trong hội họa.
Khuôn hình vừa là khái niệm cụ thể những cũng rất trừu tượng trong nhiếp ảnh. Với bất kỳ người chụp ảnh nào dù việc làm quen với khuôn hình bắt đầu bằng khung ngắm khi lựa cảnh. Với số đông người chụp ảnh nghiệp dư với mục đích chụp lấy cảnh thì hình ảnh họ nhìn thấy trong khung ngắm chính là khuôn hình vì mục đích của họ là có gì chụp nấyKhi người chụp ảnh ngắm, khung hình trong máy còn biểu thị các chỉ số về ánh sáng, về giới hạn hình ảnh. Các máy ảnh kỹ thuật số còn có thể thay đổi khuôn hình bình thường hay panorama.


       Ảnh: Khung hình máy ảnh kỹ thuật số

Vậy khuôn hình nhiếp ảnh là gì ?
Nói theo A. Lapin, nhiếp ảnh gia- nhà lý luận người Nga, đó là mặt phẳng tạo hình, là  định dạng khuôn hình ảnh. Bức ảnh là một phần của thế giới hiện thực được người nghệ sĩ nhiếp ảnh ghi lại. Trong khuôn khổ của kích thước tấm ảnh, người chụp giới hạn không gian, nhấn vào những chi tiết, những tình tiết có khả năng thể hiện tốt nhất ý tưởng hay dự định nghệ thuật của mình. Công việc sáng tạo nghệ thuật trong nhiếp ảnh bắt đầu như thế. Có người nói rằng khuôn hình chính là “chiếc kéo nghệ thuật” của người nghệ sĩ nhiếp ảnh. Phương tiện biểu hiện này luôn được sử dụng cùng với những thủ pháp khác một cách có tổ chức và hài hòa, phù hợp với những đặc điểm của nội dung, cốt truyện. Công việc giới hạn, chọn lựa trong khuôn hình của nhiếp ảnh gia đã hàm chứa những sức mạnh đặc biệt, quyết định đầu tiên dẫn đến thành quả nghệ thuật của bức ảnh.
Việc lựa chọn kích thước các cạnh tương ứng để tạo thành khuôn hình, hay nói cách khác là việc cắt cúp khuôn hình phụ thuộc vào quan niệm của tác giả và đặc điểm của nội dung bức ảnh chứ không phải vào những nguyên tắc định trước.
Tỷ lệ vàng có chứa đựng những tiền đề sinh học, nó xuất phát từ những tỉ lệ mà chúng ta thường gặp trong tự nhiên:
Ví dụ: 
+ 1:1,6 là tỉ lệ của bàn tay người với xương quay của nó
+ 3:5 là tỉ lệ của chiều rộng vai với chiều cao của thân thể con người hay trong tỉ lệ của những đồ vật, vật dụng hàng ngày như kích thước của cái cửa sổ, cửa ra vào trong quan hệ với kích thước của con người, tỉ lệ của các cạnh quyển sách, quyển vở chúng ta thường sử dụng trong cuộc sống.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những tỉ lệ vàng này không phải là bất biến, không phải là tuyệt đối. Quyết định về kích thước, tỉ lệ khuôn hình cuối cùng vẫn thuộc về ý đồ nghệ thuật, cảm thụ thẩm mĩ và sự sáng tạo của người nghệ sĩ. 
Độ lớn của các cạnh khuôn hình (chứ không phải tỉ lệ của chúng) là yếu tố quyết định kích thước của một bức ảnh, có thể vài xăng ti mét  đến vài mét mỗi cạnh khi tấm ảnh được phóng ra. Trong thực tế sử dụng có thể gặp nhiều cỡ ảnh khác nhau. Một số cỡ ảnh thông dụng nhất trong đời sống là: 6x9, 9x12,10 x15cm, 13x18cm, 18x24cm, 30x40cm, 40x60cm, 50x75cm … Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, công nghệ in phóng ảnh đã trở nên rất hiện đại với giá thành ngày càng rẻ. Người ta thường sử dụng những cỡ ảnh lớn để triển lãm hoặc rất lớn căng ở các biển  quảng cáo ngoài phố.
Khuôn hình phim điện ảnh khác với khuôn hình nhiếp ảnh luôn phải là khuôn hình ngang, với kích thước chiều ngang luôn lớn hơn chiều cao. Cả một bộ phim chỉ dùng một khuôn hình thống nhất 1: 1,33, 1:1,78, 1:1,35, 1:2,35, 1:2,20 tính theo tỷ lệ chiều dọc với chiều ngang khuôn hình. Khuôn hình truyền hình cũng vậy, một phần dựa vào một số khuôn hình kinh điển của điện ảnh để được định dạng trong khung ngắm máy quay và màn ảnh truyền hình, gồm các khuôn hình 4;3, 16;9, 21;9.
Khuôn hình nhiếp ảnh được tự do hơn nhiều, thậm chí có thể gọi là tùy ý có thể ngang, có thể đứng với các tỉ lệ khuôn hình hoàn toàn tự do. Ở khía cạnh nào đó có thể xem đây cũng là một phương tiện biểu hiện hữu hiệu của nghệ thuật nhiếp ảnh. Tuy vậy, hướng năng động tự nhiên của chủ thể sẽ quyết định chiều dọc hay đứng của của khuôn hình. 
Với cảnh quan cánh đồng bát ngát, bãi biển xanh thoáng đãng hay con đường đê... thì khuôn hình ngang luôn thỏa mãn đôi mắt người xem. Khuôn hình ngang cũng được gọi là khuôn hình kể chuyện.
                        Ảnh: Một sớm đầu năm= Phạm Thanh Hà 
Ở điểm nhìn gần các công trình kiến trúc, cây cối với chiều vươn thẳng đứng thích hợp với khuôn hình dọc. Dạng khuôn hình này còn hay được sử dụng trong những ảnh đối xứng trên dưới.
                   Ảnh: Bình yên Zaans Schans - Phạm Thanh Hà
Với A. Lapin, khuôn khổ chiều ngang phù hợp hơn với sự trần thuật, khung chiều dọc tương ứng với hoạt động tích cực. (Nhiếp ảnh là…, Chương 1, trang 33)
Trong sáng tác khuôn hình vuông tùy theo ý đồ hoặc phong cánh của các tác giả.
                   Ảnh: Glacier National Park (1942) - Ansel Adam
Khuôn hình vuông giúp mắt người xem nhanh chóng định hình chủ thể chính, bớt phân tán với các chi tiết hình và các màu sắc trong ảnh. Ảnh vuông bảo đảm tuyệt đối ánh sáng đều về mọi hướng khi ống kính thu hình ảnh vào mặt phim hoặc cảm biến. Trong khung hình vuông chủ đề chính đặt ở trung tâm đem lại hiệu quả cao. Bố cục đối xứng cũng thích hợp trong khuôn hình này.
PTH

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2018

NHỮNG ĐẶC THÙ CỦA NGHỆ THUẬT NHIẾP ẢNH


                                                                         NSƯT-NSNA PHẠM THANH HÀ 

Nhiếp ảnh - Nghệ thuật ra đời từ kỹ thuật

Thuở sơ khai loài người đã phải vật lộn với thiên nhiên để tồn tại, họ  bước đi chập chững trên mặt đất, vạch lá chặt cây làm nơi trú mưa, sống bầy đàn trong hang đá để tránh thiên tai và thú dữ. Con người đã từng bước cải tạo chính mình và cải tạo thiên nhiên. Với bộ não phát triển và đôi tay khéo léo, từ tiếng nói đến chữ viết, trải qua những quãng dài nhiều chục nghìn năm những nền văn minh nhân loại đã ra đời. Nghệ thuật tạo hình cũng sinh ra trong dòng chảy lịch sử của nhân lọai. Đã có không ít tài liệu nói đến những tác phẩm nghệ thuật hình ảnh đầu tiên của con người từ tranh vẽ trong hang rồi đến những hình họa khắc trên đá. Sẽ còn nhiều hội thảo khoa học quốc tế về những hình chạm khắc cổ bí ẩn và ý nghĩa mang tính nghệ thuật đầy ngẫu hứng tại bãi đá cổ Sa Pa của Việt Nam, về tranh trên vách đá ở Pháp, Tây Ban Nha...
Từ những tác phẩm hội họa vô danh trên những bức tường nhà thờ, lâu đài cổ, nghệ thuật hình ảnh mà tiêu biểu là hội họa, điêu khắc đã phát triển rực rỡ thành những trào lưu, trường phái với các tác giả tiêu biểu cho mỗi giai đoạn phát triển như Leonardo da Vinci(1452-1519) ở Ý, Rembrandt Harmenszoon (1606-1669) ở Hà Lan, cùng nhiều các họa sỹ vĩ đại Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Trung Quốc vv… Tác phẩm của họ hiện vẫn đang trưng bày tại các bảo tàng nổi tiếng thế giới với hàng triệu lượt khách viếng thăm hàng năm.
Với sự phát triển của văn minh nhân loại, nghệ thuật vẽ, chạm, khắc  bằng tay dần thu hẹp lại. Hình ảnh do bàn tay con người tạo ra đàn bị tước mọi khả năng cơ bản nhất của nó. Khả năng khêu gợi sự ngạc nhiên trước thực tế, cuộc sống, con người của Nghệ thuật phục hưng Ý, của Chủ nghĩa hiện thực Pháp trong hội họa cũng như khả năng ma lực của bàn tay các nghệ nhân thuở xưa đến thời nay đều trở nên bình thường. Nhiếp ảnh đã thâm nhập vào những lĩnh vực truyền thống của hội họa như chân dung, tường thuật, sinh hoạt. Hiện nay nhiếp ảnh là một nghệ thuật tạo hình trong thế giới đương đại cùng với hội họa, điêu khắc, kiến trúc, điện ảnh. Hình họa chân dung từ địa vị cao sang và độc tôn dành cho vua chúa, quý tộc hay những nhân vật khác có đặc quyền đã trở thành những hình ảnh quảng đại, thành hàng hóa trong sự hoàn thiện kỹ thuật của nhiếp ảnh. Nếu như bức họa Mona Lisa được họa sỹ thiên tài Leonardo da Vinci thực hiện trong 4 năm (từ 1503-1507) thì hiện nay chỉ trong chốc lát người nhiếp ảnh gia có thể chụp ngay được một tấm chân dung người mẫu trong studio hay thiếu nữ thanh xuân ngoài trời. Không riêng người chụp chuyên nghiệp, bất kỳ một con người bình thường nào cũng có thể dung máy ảnh hiện đại hoặc điện thoại thông mình để chụp cảnh hoặc selfie tại những địa danh nổi tiếng.

Minh họa 1: Trong bảo tàng Louvre. Ảnh- Thanh Duy. 
Trong bức ảnh trên là hàng trăm du khách đua nhau chụp lại, tự chụp mình trước bức họa Mona Lisa nổi tiếng trong bảo tàng Louvre ở thủ đô Paris- CH Pháp. Được biết mỗi ngày có hàng chục nghìn lượt người khách du lịch đến gian trưng bày này rồi đem về hoặc chia sẻ cả trăm nghìn bức hình chụp lại các tuyệt tác hội họa cũng như ảnh của chính những du khách. Đến mức Davit Piper trong cuốn sách Voir et Comprendre la Peinture (Thưởng ngoạn hội họa, trang 17, biên dịch Lê Thanh Lộc - NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội 1997) đã phải thốt lên: - Có vẻ từ nay nghệ thuật đã mất đi khả năng thực tiễn của nó là làm nhân chứng và gìn giữ kỷ niệm, cái chức năng được máy chụp ảnh thực hiện một cách rẻ tiền và nhanh chóng…
Khuôn khổ bài viết này sẽ không đi quá xa vào tính đại chúng của nhiếp ảnh mà muốn nhấn mạnh: nghệ thuật tạo hình hiện đại không chỉ được thực hiện bằng đôi tay khéo léo của con người mà còn được sáng tạo nhờ sử dụng công nghệ. Nhiếp ảnh, điện ảnh và truyền hình đều ra đời từ những phát mình kỹ thuật.
Có họa sỹ cho rằng hội họa đã khai sinh ra nhiếp ảnh. Chắc chắn đó là một nhận định chưa đúng vì những thí nghiệm của nhà khoa học Pháp Joseph Nicéphore Niepce (1765-1833) vào khoảng năm 1826-1827 trong căn phòng làm việc của mình tại Saint Loup de Vanrennes Saint-Loup-de-Varennes, đã thực hiện thành công bức ảnh cố định (permanent photograph) đầu tiên với tên La cour du domaine du Gras. Bức ảnh được thực hiện trong vòng 8 giời đồng hồ. Mục đích của Niepce là làm sao lưu giữ được hình ảnh của vật thể qua tác dụng của ánh sáng... Bức ảnh này hiện còn được lưu giữ trong bộ sưu tập của Gernsheim ở trường ĐH Texas (Mỹ). Có thể nói đây là bức ảnh xưa nhất tồn tại đến nay mà thời ấy Niepce gọi đó là hình ảnh còn sống sót trong thế giới thực. Luois Jaques Mandes Daguere (1878-1851), nghệ sỹ, nhà vật lý học người Pháp đã cộng tác và kế tục công việc của Niepce để phát minh ra chiếc máy ảnh chụp bằng phương pháp dương bản. Bức ảnh Đại lộ Templ (1838) có thời gian chụp 10 phút của Daguere hình ảnh chỉ có độc bản (không phải chụp từ negative rồi phóng ra giấy như ảnh chụp phim sau nảy). Ông phải hiện hình qua thủy ngân độc hại và phải xem với một góc độ thích hợp. Sáng chế của Daguere được chính phủ Pháp mua lại để tặng cho toàn nhân loại. Và năm 1839 đánh dấu sự ra đời chủa nhiếp ảnh thế giới.
Phát minh về hiện và lưu ảnh của Niepce và Dauege khác hẳn với phương pháp chép cảnh trong buồng tối camera obscura mà các họa sỹ châu Âu vận dụng từ mấy thế kỷ trước thời đại của hai ông.
                                        Minh họa 2: Camera obscura
Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, kỹ thuật nhiếp ảnh đã có những bước tiến dài các thế hệ máy ảnh không ngừng được cải tiến và hoàn thiên. Từ chỗ hình ảnh được hiện nhờ các tấm kính tráng muối bạc, việc chụp ảnh về sau chuyển sang dùng phim miếng, phim cuộn với lớp gelatin tráng các lớp nháy sáng và nhạy màu. Đến nay máy ảnh kỹ thuật số với chip cảm biến hiện đại chuyển tín hiệu hình ảnh thành những dãy số để lưu trữ, xử lý hậu kỳ theo quy trình giải mã thuật toán khi in ra ảnh.
Sự thay đổi về công nghệ của của nhiếp ảnh cũng nằm trong quy luật phát triển mà nghệ thuật tạo hình bằng tay của hội họa và điêu khắc từng trải qua trước đó. Đó là sự phát triển của phương tiện và vật liệu tạo hình. Thuở đầu con người vẽ, khắc trên đá, trên gỗ rồi trên giấy, trên vải… Nặn tượng bằng đất nung, đúc đồng, ghép hình bằng gốm sứ, hay vẽ trên những tấm vải toan bằng bút vẽ đều được thể hiện bằng đôi tay. Nhiếp ảnh thu hình ảnh qua ống kính quang học rồi tái hiện lại chúng bằng chất liệu cảm quang trên mặt phim, in hình trên mặt giấy hoặc phóng hình ảnh bằng máy chiếu. Sự ra đời và phát triển của nhiếp ảnh gắn liền với cách mạng khoa học kỹ thuật thế kỷ 19. Cũng trong dòng thác công nghệ ấy điện ảnh rồi truyền hình cũng lần lượt xuất hiện.

Nghệ thuật nhiếp ảnh và hội họa:

Các họa sỹ cho rằng nhiếp ảnh ra đời từ hội họa có lý một phần vì Louis Daguere trước khi công bố bức ảnh đầu tiên của mình bằng phương pháp hiện ảnh đã là họa sỹ và ông mang ý tưởng làm ra chiếc máy không cần bút vẽ. Chỉ sau phát minh ra máy ảnh của Daguere vài năm, đến năm 1843 các họa sỹ người Scotland David Octavius Hill ( 1802-1870) và Robert Adamson (1821-1848) đã thể hiện những bức ảnh chân dung mang tính hội họa trong đó chuyển tải tính cách của thế giới nội tâm khi tạo hình nhân vật.

    Minh họa 3: Ảnh chân dung của David Octavius Hill và Robert Adamson

Những bước đi tiên phong của các họa sỹ trong lĩnh vực nhiếp ảnh đã đem đến cho nghệ thuật non trẻ này những thủ pháp tạo hình truyền thống của hội họa. Đó là sự kế thừa các phương pháp bố cục, biểu hiện  ánh sáng và các nhiếp ảnh gia hiện nay vẫn vận dụng những tinh hoa của tạo hình hội họa. Theo M.X Kagan ( Mỹ học và Ảnh Nghệ thuật – NXB Văn hóa Hà Nội 1980, trang 71) mối quan hệ giữa nghệ thuật nhiếp ảnh và hội họa đã được hình thành và sẽ còn phát triển…. Ở thời kỳ đầu nghệ thuật nhiếp ảnh còn non trẻ đã ra sức học tập bà chị của mình-(M.X Kagan)
Sự phát triển nhảy vọt về công nghệ của nhiếp ảnh cũng như những thành tựu của nó trong các lĩnh vực tạo hình, báo chí, và mọi đời sống xã hội, một mặt giúp nó củng cố vững chắc vị trí của  một loại hình nghệ thuật hiện đại, mặt khác vẫn bị dị nghị. Cũng theo M.X Kagan ( Mỹ học và Ảnh Nghệ thuật – NXB Văn hóa Hà Nội 1980, trang 11-12) thì nhiều nhà lý luận mỹ học hiện nay vẫn coi nhiếp ảnh là sự sao chép hiện thực trong khi đối với nghệ thuật thì máy móc chỉ làm trung gian trong việc xây dựng hình tượng. Họ cho rằng nhiếp ảnh mô tả các đối tượng một cách thụ động trong khi nghệ thuật đúng nghĩa là sự tái tạo hiện thực khách quan một cách chủ động và sáng tạo. Khác với các loại hình nghệ thuật truyền thống vừa miêu tả đối tượng, vừa biểu lộ quan hệ của mình với các đối tượng đó thì nhiếp ảnh bị hạn chế ở chỗ chỉ sao chép đối tượng. Họ cho rằng chỉ đạo nhiếp ảnh không phải bằng tài năng mà bằng kỹ năng còn nghệ thuật là kết quả của đầu óc tưởng tượng, là con đẻ của tài năng và cảm xúc. Về phía những người bảo vệ nghệ thuật nhiếp ảnh thì khẳng định hình thức sáng tạo mới mẻ này, là phương tiện đặc biệt miêu tả thế giới nhìn thấy, … bức ảnh sẽ trở thành nghệ thuật nếu tác giả của nó có kỹ năng và năng khiếu thẩm mỹ.
Sử dụng nhiều thủ pháp tạo hình truyền thống của hội họa nhưng nhiếp ảnh đã vượt qua hội họa ở tính hiện thực. Ảnh tài liệu đem lại cho người xem những thông tin, tin tức tuyệt đối khách quan, không bị bất cứ nguyên nhân chủ quan nào chi phối. Hơn thế nữa, nhiếp ảnh còn là nghệ thuật của khoảnh khắc. Nó cho chúng ta nhìn được cuộc sống lưu lại từ trong những 1/50 giây, 1/1000 giây … hết sức ngắn ngủi để lưu lại và diễn tả những hiện tượng và biểu cảm rất khó nhận ra từ đời sống. Năm 1957 Henry Cartier-Bresson từng trả lời tờ Washington Post Washington Post rằng: "Nhiếp ảnh không giống như tranh vẽ. Có một phần sáng tạo trong giây lát khi bạn chụp một bức tranh. Mắt của bạn phải nhìn thấy một bố cục hoặc một biểu hiện mà chính bản thân cuộc sống cung cấp cho bạn, và bạn phải biết trực giác khi bấm vào máy ảnh. Đó là thời điểm mà nhiếp ảnh gia sáng tạo” .
                            Minh họa 4: Ảnh Elliott Erwitt
Ảnh nghệ thuật có nhiệm vụ đặc biệt là xây dựng hình tượng nhân vật, nói lên mối quan hệ của các sự kiện đối với con người và nói lên giá trị tâm lý xã hội đối với những sự kiện ấy.
Nhiếp ảnh- sự câm lặng vĩ đại, như những nghệ thuật tạo hình trước nó đã làm được. Một khung tranh, một bức ảnh cũng có câu chuyện kể về những số phận mà không cần phải nói bằng lời. Người xem sẽ tự cảm nhận ngôn ngữ của nhiếp ảnh thông qua sự đậm nhạt, màu sắc, ánh sáng cũng như thần sắc nhân vật trong ảnh.

Nhiếp ảnh và điện ảnh:

Nhiếp ảnh cũng như điện ảnh đều là nghệ thuật từ công nghệ. Nhưng một khuôn hình trích ra từ một cảnh quay không thể so sánh với một bức ảnh nhất là nó không được nhận thức trong một loạt các khuôn hình liên tiếp khác và trong mọi trường hợp nó không được thiết lập để xem xét như một hình ảnh nhiếp ảnh- Alecxandr Iosifovich Lapin đã viết trong cuốn sách Nhiếp ảnh là ... (NXB Treemedia 2013, tr 189). Điện ảnh là chuyển động. Theo nhà lý luận lỗi lạc, nhiếp ảnh gia Nga, người nổi tiếng với hơn 20 cuộc triển lãm quốc tế và nhiều tác phẩm được lưu giữ ở các bảo tàng thế giới, thì đó là chuyển động của từng hình, tạo nên ảo giác chuyển động vật lý thực tế trên màn ảnh, đó là chuyển động nhân vật hoặc mẩu riêng rẽ của tường thuật điện ảnh, bị hạn chế bởi các cảnh trước và sau nó. Chúng có thể thay đổi góc nhìn hay cỡ cảnh, có thể là cú lia hoàn chỉnh hay camera tiến lùi, hoặc như không gì thay đổi cả, chỉ là nhân vật mở mắt hay là đút tay vào túi- (Trang 188)

Cảnh quay - cơ sở của khái niệm ngôn ngữ điện ảnh, đơn vị nhỏ nhất của montage. Một trường đoạn gồm nhiều cảnh phim, mỗi một bộ phim bao gồm nhiều trường đoạn với cả nghìn cảnh quay với hàng trăm ngàn frame ảnh.
Nhưng với nhiếp ảnh chỉ một lần bấm máy với một frame hình lưu lại thôi đã là một tấm ảnh độc lập có một thế giới thông tin và có một câu chuyện kể bằng ngôn ngữ hình riêng.
Nhưng so với Điện ảnh là Nhiếp ảnh động với 24 hình liên tiếp trong một giây, liệu một hình ảnh được fic lại như trong tác phẩm nhiếp ảnh hoặc (một bức tranh) có những yếu tố sống động ?
         

                                      Minh họa 5- Tranh Vào ban đêm. Sóng xanh 1876
Trong bức tranh của họa sỹ lãng mạn Nga Ivan Aivazovxki là những đợt sóng muốn nhấn chìm con tàu với cột buồm chao nghiêng, người xem cảm nhận được là sóng cuồn cuộn cùng nỗi kinh hoàng của dông tố. Ngoài mặt biển điên cuồng là những cơn gió mạnh không ngừng thể hiện qua hai lá cờ quằn quại trên cột buồm. Khoảnh khắc trong một bức tranh tĩnh nhưng chứa đựng bên trong sự dữ dội của biển cả khiến người xem như đang nghe âm thanh sóng dữ. 


                           Minh họa 6: Đà Lạt lúc lên đèn. Ảnh Phạm Thanh Hà
Bức ảnh trên do tác giả (PTH) chụp trong đợt sáng tác tháng 3-2016 của các nghệ sỹ Đại học Sân khấu Điện ảnh tại thành phố Đà Lạt. Thành phố vừa từ chiều chuyển sang tối với ánh đèn bừng sáng khắp thánh phố, in bóng xuống hồ Xuân Hương thơ mộng. Sự chuyển động của cuộc sống thể hiện qua những vệt sáng do xe cộ vẽ nên quanh bùng binh trung tâm thành phố, như rắn lượn quanh hồ. Bức ảnh được lộ sáng với thời gian 30 giây. Lưu một khoảng thời gian dài vào một khoảnh khắc trong khuôn hình là một thủ pháp tạo hình độc đáo chỉ riêng của nhiếp ảnh. Nếu xem khuôn hình trên bằng hình ảnh do máy quay phim ghi lại người xem sẽ thấy cụ thể những chiếc ô tô to nhỏ cùng xe máy nối đuôi nhau chạy trong một cảnh quay độ dài nhiều giây. Nhưng trong bức ảnh chúng bị mất dạng và để lại những vệt kẻ sáng. Cùng một nguyên lý tái hiện hình ảnh và màu sắc nhưng khác nhau phương tiện kỹ thuật, thủ pháp thực hiện, điện ảnh và nhiếp ảnh diễn đạt sự sống động bằng ngôn ngữ khác nhau.
Tác phẩm hội họa của Ivan Aivazovxki nêu trên cũng nói lên rằng, dù hình thức biểu đạt khác nhau nhưng các tác phẩm nghệ thuật tạo hình đều có điểm chung là đều mang cảm xúc thẩm mỹ của người sáng tác và tính tạo hình bằng những ngôn ngữ của ánh sáng, đường nét trong các tác phẩm của họ. “Người nghệ sỹ trong lĩnh vực nhiếp ảnh, cũng như trong các lĩnh vực khác là người điều khiển các ý tưởng, tư duy sáng tạo các hiện tượng hình ảnh và hoàn thiện chúng bằng trình độ nghề nghiệp của mình. Anh ta tự do với nội dung cảnh chụp và thời điểm hành động, theo thời gian; anh ta lựa chọn vị trí chụp và tính chất ánh sáng của đối tượng hình ảnh; trong việc xử lý kỹ thuật và thủ pháp nghệ thuật – những hệ thống quang học khác nhau, kính lọc màu, các phương pháp tráng phim negative và positive, góc độ, thấu thị ảnh, cỡ cảnh, cấu trúc đường nét và tông mật độ của khuôn hình. Đó là những công cụ điều hành các phương tiện luôn ngoan ngoãn và phục tùng người nghệ sỹ, cho phép làm sâu sắc và mở toang ý tưởng, đề tài cho nội dung và đạt tới hình tượng thể hiện của chủ đề trong quyết định tạo hình cuối cùng của bức ảnh. Như vậy, trong nhiếp ảnh không có gì cản trở việc hình thành tác phẩm nghệ thuật. Nó bước vào thế giới nghệ thuật khi nhiệm vụ của nó là khám phá con người và tái hiện hiện thực cho những bức ảnh thông qua các hình tượng nghệ thuật”- (Đưco Lidia Pavlovna, Những cơ sở bố cục ảnh, trang 6)  
       
PTH