Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2019

NGHỆ THUẬT QUAY PHIM TRONG “CITIZEN KANE” (Bài ST)

Bộ phim “Citizen Kane” ( Công dân Kane ), phát hành năm 1941, đạo diễn bởi Orson Welles ( được biết tới với Citizen Kane, và sau này là Touch of Evil ( 1958 ), F for Fake ( 1973 ) ), quay phim Gregg Toland.
 “Citizen Kane” kể về cuộc đời của nhân vật giả tưởng Charles Foster Kane – ông trùm báo chí của Hoa Kỳ và là một trong những người giàu có nhất thế giới. Như vậy liệu chăng “Citizen Kane” đơn thuần chỉ là một bộ phim tiểu sử với những cách làm thông thường đã dần đi vào lối mòncủa Hollywood vào những năm 30 ? Điều đã khiến “Citizen Kane” trở nên đặc biệt, được viện điện ảnh Mỹ ( American Film Institute ) ca tụng là “bộ phim Hollywood tuyệt vời nhất từng lên màn ảnh”, nằm ở việc bộ phim chính là một sự hòa trộn, sự kết hợp của rất nhiều những kĩ thuật làm phim khác nhau: Lối kể chuyện bắt đầu từ kết thúc theo mạch thời gian, thoại chồng liên tiếp với nhau,.. và hiển nhiên khi nhắc tới “Citizen Kane’, ta không thể không nhắc tới khía cạnh hình ảnh. Có thể, những kĩ thuật về quay phim, về hình ảnh trong “Citizen Kane” không mới: trường nét sâu, ánh sáng chiaroscuro, những góc máy cực đoạn, cú máy dài,… Vậy nhưng, vào thời điểm ấy, việc đưa tất cả những kĩ thuật này vào trong cùng một bộ phim thì lại là một điều hoàn toàn đặc biệt, tạo ra một trải nghiệm hoàn toàn mới đối với người xem.Bài viết sẽ trình bày về những điểm nhấn nổi nhật bất về hình ảnh, về quay phim mà Orson Welles cùng với Gregg Toland đã cùng nhau tạo dựng nên và đưa vào bộ phim: Trường nét sâu, Góc máy, Ánh sáng, Cảnh quay dài.

 TRƯỜNG NÉT SÂU (DEEP FOCUS)
Việc sử dụng trường nét sâu có lẽ là yếu tố luôn luôn được nhắc tới đầu tiên và nhiều nhất khi ta nói về “Citizen Kane”. Với kĩ thuật này, ở trong khung hình, toàn bộ các vùng không gian ( tiền cảnh, hậu cảnh, chính cảnh ) đều được nét, thấy rõ mọi chi tiết.
Ở trong cuốn A History of Narrative Film của David Cook, ông có viết rằng: “Wells lên kế hoạch tạo ra một bộ phim với hàng loạt những cảnh quay, những phân đoạn quay dài, được bố cục để tạo ra chiều sâu một cách chặt chẽ, nhằm hạn chế việc phải cắt cảnh ở những sự kiện kịch tính trong phim. Để tạo được hiệu quả này, Toland đã đưa ra cho Wells một giải pháp hình ảnh là trường nét sâu để tạo ra một độ nét “tuyệt đối” trong khuôn hình.”
Trường nét sâu là một cách làm rất hiệu quả để đưa được nhiều thông tin và hành động vào trong một cảnh phim, tạo ra một sự liền mạch và liên kết về mặt không gian trong cảnh, của chủ thể chính, của tiền cảnh và hậu cảnh; tạo ra một cảm giác về một không gian “thực” trong phim đối với người xem. Như nhà phê bình phim James Naremore vào năm 2004 đã từng viết: “Trường nét sâu có thể tạo ra tính “liên tục” của hiện thực trong phim và hiệu ứng hình ảnh không gian ba chiều ấy có thể tạo ra cho khán giả một cảm giác như đang được xem một “không gian thực””.
Về mặt kĩ thuật, để có thể thực hiện được kĩ thuật này, Gregg Toland đã sử dụng một hệ thống máy quay được chế tạo đặc biệt, với ống kính Vard Optical giúp hạn chế được độ chói của ánh sáng ( glare ) và tăng lượng ánh sáng đi qua ống kính, kết hợp cùng với phim Kodak Super XX, phim nhanh nhất thời bấy giờ.
Để sử dụng được hiệu quả trường nét sâu, ngoài công tác kĩ thuật, đạo diễn và quay phim phải cùng nhau phối hợp về dàn cảnh – ánh sáng – chuyển động, động tác máy để tạo ra một không gian phim nơi người xem có thể cảm nhận được một cách liền mạch, “thực” nhất.
Ví dụ về việc sử dụng trường nét sâu trong phim:


Đây là cảnh quay có lẽ là nổi tiếng nhất trong “Citizen Kane”, về việc sử dụng trường nét sâu phối hợp cùng chuyển động máy cùng dàn cảnh nhân vật. Lúc này Kane vẫn còn bé, và đây là cuộc hội thoại giữa cha mẹ cùng với ông Thatcher – người bảo hộ cho Kane từ giờ về sau về khoản tiền, về tương lai của Kane.
Cảnh quay được bắt đầu với Charles Foster Kane khi còn bé đang chơi một mình ngoài trời tuyết, máy lùi lại, thấy được người mẹ và ông Thatcher đang đứng cạnh cửa sổ, chuyển từ góc máy chủ quan sang góc máy khách quan. 
Máy tiếp tục lùi cho tới khi người mẹ và ông Thatcher ngồi xuống bàn làm việc, ông bố vẫn đứng ở một góc, và Kane vẫn chơi ở phía đằng xa ngoài trời tuyết.
Với việc sử dụng trường nét sâu, ta có thể thấy rõ được mọi việc đang diễn ra ở các vùng không gian khác nhau trong cảnh. Ở tiền cảnh và là chủ thể, người mẹ và ông Thatcher làm việc, nói chuyện về giấy tờ, tiền bạc, cũng như về tương lai của Kane, người cha đứng ở một góc – là người không có tiếng nói trong gia đình, còn Kane ở phía đằng xa vẫn đang đùa nghịch trong tuyết, được bố cục trong một khung cửa sổ khác, nơi có những người lớn bao quanh – rõ ràng số phận hay tương lai của Kane, quyền quyết định đang nằm trong tay của người lớn.

Ở cuối cảnh là một xử lí rất hay của đạo diễn khi để người cha đi ra về phía cửa sổ, đóng cửa lại, nhưng ngay sau đó, máy quay đi theo người mẹ, mở cửa sổ ra. Theo một cách nào đó, hành động của nhân vật cũng như chuyển động của máy quay cho khán giả thấy được phần nào về thái độ của người cha và người mẹ đối với Kane. 

Ở một cảnh quay khác về cuối phim, khi Kane phát hiện ra người đồng nghiệp của mình là Leland đang say, đang viết dở một bài viết phê bình thậm tế về người vợ Susan của mình – một diễn viên hát opera. Kane đã quyết định tự chính mình viết lại bài báo này. 

                Cảnh ngay liền sau đó là một cảnh góc máy cao, Kane bị bao quanh bời ông Thatcher và những người giúp việc trong nhà. Kane quãngthời gian còn bé hoàn toàn bị kiểm soát, bị lấn át.
Thế nhưng, ở những cảnh quay sau đó, khi Kane đã gần đủ tuổi để sở hữu khối tài sản, và Kane quyết định sẽ mua lại tòa soạn và bắt đầu quyết định con đường độc lập của mình. Dù trong hình không hề có Kane và chỉ có ông Thatcher, thế nhưng góc máy lúc này là những góc máy trung bình, góc máy thấp, cho thấy được vị thế của Kane lúc này rất độc lập, ngang bằng, vượt ngoài tầm kiểm soát của người bảo hộ của mình là ông Thatcher.

Một cảnh quay tiêu biểu khác nữa trong việc sử dụng góc máy trong “Citizen Kane” chính là một cảnh quay với góc máy rất thấp, sau khi chuyện tình của ông và Susan được công bố, con đường chính trị của Kane chính thức sụp đổ, Kane đi vào tòa soạn, đối thoại với Leland. 

Để thực hiện được góc máy này, trên trường quay, đoàn làm phim đã phải đào hố dưới sàn nhà để có thể đặt được máy quay.





Thứ Ba, 4 tháng 9, 2018


           Khuôn hình nhiếp ảnh 

                                                                  NSƯT-NSNA Phạm Thanh Hà 
Nhiếp ảnh đã vượt qua cái ngưỡng để làm sao lưu giữ được hình ảnh của vật thể qua tác dụng của ánh sáng... và là chiếc máy không cần bút vẽ   như mục đích ban đầu của Niepce và Daguere trong nửa đầu thế kỷ 19 đã phấn đấu. Phía trước khung ngắm máy ảnh không chỉ là là những gì nhiếp ảnh gia nhìn thấy mà là kết quả của sự quan sát. Hiện thực được tái tạo bằng hiệu ứng ánh sáng, độ tương phản, tông màu. Nhưng trước hết và trên hết là bố cục các yếu tố hình thức trên mặt phẳng.
Theo Berthold  Beiler, quá trình sáng tác ảnh của nhiếp ảnh gia được tiến hành theo ba bước:
-         Bước 1: Trong số vô vàn vật thể có mặt trên hiện trường người chụp ảnh chọn một đối tượng và định xử lý nó như thế này hoặc thế kia …một cách hợp lý và có thẩm mỹ.
-         Bước 2: Tùy theo tính chất thẩm mỹ mà người chụp muốn làm sáng tỏ hay muốn nâng cao trong bức ảnh, trong giây lát anh ta phải nắm bắt được và đưa vào “nguồn sáng thích hợp”
-         Bước 3: Vận dụng kỹ thuật để chuyển hóa ý đồ tư tưởng vào trong một bố cục ưng ý. (Suy nghĩ về nhiếp ảnh, NXB Văn hóa 1986- Trang 35)
Nhiếp ảnh ban đầu tiếp thu những nguyên lý tạo hình từ hội họa. Nhưng chính nhiếp ảnh cũng đem lại cho hôi họa những khái niệm mới và một trong những cái mới đó là Khuôn hình. Đối với hội họa cho đến tận thời Ấn Tượng kích thước các chủ thể (nhân vật chính ) của bức tranh này so với bức tranh kia chẳng khác là bao. Các họa sĩ thường bằng lòng với kiểu bố cục “dàn cảnh tổng quan”- cái nhìn toàn cảnh,  các nhân vật vẽ ở hàng phía trước của tranh thường được vẽ đủ từ đầu đến chân. Khuôn hình tranh khá ước lệ, tạo ra ấn tượng là các nhân vật đang diễn kịch trên nền sân khấu. Cuối thế kỷ 19 khi nhiếp ảnh ra đời khái niệm khuôn hình bắt đầu xuất hiện trong hội họa.
Khuôn hình vừa là khái niệm cụ thể những cũng rất trừu tượng trong nhiếp ảnh. Với bất kỳ người chụp ảnh nào dù việc làm quen với khuôn hình bắt đầu bằng khung ngắm khi lựa cảnh. Với số đông người chụp ảnh nghiệp dư với mục đích chụp lấy cảnh thì hình ảnh họ nhìn thấy trong khung ngắm chính là khuôn hình vì mục đích của họ là có gì chụp nấyKhi người chụp ảnh ngắm, khung hình trong máy còn biểu thị các chỉ số về ánh sáng, về giới hạn hình ảnh. Các máy ảnh kỹ thuật số còn có thể thay đổi khuôn hình bình thường hay panorama.


       Ảnh: Khung hình máy ảnh kỹ thuật số

Vậy khuôn hình nhiếp ảnh là gì ?
Nói theo A. Lapin, nhiếp ảnh gia- nhà lý luận người Nga, đó là mặt phẳng tạo hình, là  định dạng khuôn hình ảnh. Bức ảnh là một phần của thế giới hiện thực được người nghệ sĩ nhiếp ảnh ghi lại. Trong khuôn khổ của kích thước tấm ảnh, người chụp giới hạn không gian, nhấn vào những chi tiết, những tình tiết có khả năng thể hiện tốt nhất ý tưởng hay dự định nghệ thuật của mình. Công việc sáng tạo nghệ thuật trong nhiếp ảnh bắt đầu như thế. Có người nói rằng khuôn hình chính là “chiếc kéo nghệ thuật” của người nghệ sĩ nhiếp ảnh. Phương tiện biểu hiện này luôn được sử dụng cùng với những thủ pháp khác một cách có tổ chức và hài hòa, phù hợp với những đặc điểm của nội dung, cốt truyện. Công việc giới hạn, chọn lựa trong khuôn hình của nhiếp ảnh gia đã hàm chứa những sức mạnh đặc biệt, quyết định đầu tiên dẫn đến thành quả nghệ thuật của bức ảnh.
Việc lựa chọn kích thước các cạnh tương ứng để tạo thành khuôn hình, hay nói cách khác là việc cắt cúp khuôn hình phụ thuộc vào quan niệm của tác giả và đặc điểm của nội dung bức ảnh chứ không phải vào những nguyên tắc định trước.
Tỷ lệ vàng có chứa đựng những tiền đề sinh học, nó xuất phát từ những tỉ lệ mà chúng ta thường gặp trong tự nhiên:
Ví dụ: 
+ 1:1,6 là tỉ lệ của bàn tay người với xương quay của nó
+ 3:5 là tỉ lệ của chiều rộng vai với chiều cao của thân thể con người hay trong tỉ lệ của những đồ vật, vật dụng hàng ngày như kích thước của cái cửa sổ, cửa ra vào trong quan hệ với kích thước của con người, tỉ lệ của các cạnh quyển sách, quyển vở chúng ta thường sử dụng trong cuộc sống.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những tỉ lệ vàng này không phải là bất biến, không phải là tuyệt đối. Quyết định về kích thước, tỉ lệ khuôn hình cuối cùng vẫn thuộc về ý đồ nghệ thuật, cảm thụ thẩm mĩ và sự sáng tạo của người nghệ sĩ. 
Độ lớn của các cạnh khuôn hình (chứ không phải tỉ lệ của chúng) là yếu tố quyết định kích thước của một bức ảnh, có thể vài xăng ti mét  đến vài mét mỗi cạnh khi tấm ảnh được phóng ra. Trong thực tế sử dụng có thể gặp nhiều cỡ ảnh khác nhau. Một số cỡ ảnh thông dụng nhất trong đời sống là: 6x9, 9x12,10 x15cm, 13x18cm, 18x24cm, 30x40cm, 40x60cm, 50x75cm … Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, công nghệ in phóng ảnh đã trở nên rất hiện đại với giá thành ngày càng rẻ. Người ta thường sử dụng những cỡ ảnh lớn để triển lãm hoặc rất lớn căng ở các biển  quảng cáo ngoài phố.
Khuôn hình phim điện ảnh khác với khuôn hình nhiếp ảnh luôn phải là khuôn hình ngang, với kích thước chiều ngang luôn lớn hơn chiều cao. Cả một bộ phim chỉ dùng một khuôn hình thống nhất 1: 1,33, 1:1,78, 1:1,35, 1:2,35, 1:2,20 tính theo tỷ lệ chiều dọc với chiều ngang khuôn hình. Khuôn hình truyền hình cũng vậy, một phần dựa vào một số khuôn hình kinh điển của điện ảnh để được định dạng trong khung ngắm máy quay và màn ảnh truyền hình, gồm các khuôn hình 4;3, 16;9, 21;9.
Khuôn hình nhiếp ảnh được tự do hơn nhiều, thậm chí có thể gọi là tùy ý có thể ngang, có thể đứng với các tỉ lệ khuôn hình hoàn toàn tự do. Ở khía cạnh nào đó có thể xem đây cũng là một phương tiện biểu hiện hữu hiệu của nghệ thuật nhiếp ảnh. Tuy vậy, hướng năng động tự nhiên của chủ thể sẽ quyết định chiều dọc hay đứng của của khuôn hình. 
Với cảnh quan cánh đồng bát ngát, bãi biển xanh thoáng đãng hay con đường đê... thì khuôn hình ngang luôn thỏa mãn đôi mắt người xem. Khuôn hình ngang cũng được gọi là khuôn hình kể chuyện.
                        Ảnh: Một sớm đầu năm= Phạm Thanh Hà 
Ở điểm nhìn gần các công trình kiến trúc, cây cối với chiều vươn thẳng đứng thích hợp với khuôn hình dọc. Dạng khuôn hình này còn hay được sử dụng trong những ảnh đối xứng trên dưới.
                   Ảnh: Bình yên Zaans Schans - Phạm Thanh Hà
Với A. Lapin, khuôn khổ chiều ngang phù hợp hơn với sự trần thuật, khung chiều dọc tương ứng với hoạt động tích cực. (Nhiếp ảnh là…, Chương 1, trang 33)
Trong sáng tác khuôn hình vuông tùy theo ý đồ hoặc phong cánh của các tác giả.
                   Ảnh: Glacier National Park (1942) - Ansel Adam
Khuôn hình vuông giúp mắt người xem nhanh chóng định hình chủ thể chính, bớt phân tán với các chi tiết hình và các màu sắc trong ảnh. Ảnh vuông bảo đảm tuyệt đối ánh sáng đều về mọi hướng khi ống kính thu hình ảnh vào mặt phim hoặc cảm biến. Trong khung hình vuông chủ đề chính đặt ở trung tâm đem lại hiệu quả cao. Bố cục đối xứng cũng thích hợp trong khuôn hình này.
PTH

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2018

NHỮNG ĐẶC THÙ CỦA NGHỆ THUẬT NHIẾP ẢNH


                                                                         NSƯT-NSNA PHẠM THANH HÀ 

Nhiếp ảnh - Nghệ thuật ra đời từ kỹ thuật

Thuở sơ khai loài người đã phải vật lộn với thiên nhiên để tồn tại, họ  bước đi chập chững trên mặt đất, vạch lá chặt cây làm nơi trú mưa, sống bầy đàn trong hang đá để tránh thiên tai và thú dữ. Con người đã từng bước cải tạo chính mình và cải tạo thiên nhiên. Với bộ não phát triển và đôi tay khéo léo, từ tiếng nói đến chữ viết, trải qua những quãng dài nhiều chục nghìn năm những nền văn minh nhân loại đã ra đời. Nghệ thuật tạo hình cũng sinh ra trong dòng chảy lịch sử của nhân lọai. Đã có không ít tài liệu nói đến những tác phẩm nghệ thuật hình ảnh đầu tiên của con người từ tranh vẽ trong hang rồi đến những hình họa khắc trên đá. Sẽ còn nhiều hội thảo khoa học quốc tế về những hình chạm khắc cổ bí ẩn và ý nghĩa mang tính nghệ thuật đầy ngẫu hứng tại bãi đá cổ Sa Pa của Việt Nam, về tranh trên vách đá ở Pháp, Tây Ban Nha...
Từ những tác phẩm hội họa vô danh trên những bức tường nhà thờ, lâu đài cổ, nghệ thuật hình ảnh mà tiêu biểu là hội họa, điêu khắc đã phát triển rực rỡ thành những trào lưu, trường phái với các tác giả tiêu biểu cho mỗi giai đoạn phát triển như Leonardo da Vinci(1452-1519) ở Ý, Rembrandt Harmenszoon (1606-1669) ở Hà Lan, cùng nhiều các họa sỹ vĩ đại Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Trung Quốc vv… Tác phẩm của họ hiện vẫn đang trưng bày tại các bảo tàng nổi tiếng thế giới với hàng triệu lượt khách viếng thăm hàng năm.
Với sự phát triển của văn minh nhân loại, nghệ thuật vẽ, chạm, khắc  bằng tay dần thu hẹp lại. Hình ảnh do bàn tay con người tạo ra đàn bị tước mọi khả năng cơ bản nhất của nó. Khả năng khêu gợi sự ngạc nhiên trước thực tế, cuộc sống, con người của Nghệ thuật phục hưng Ý, của Chủ nghĩa hiện thực Pháp trong hội họa cũng như khả năng ma lực của bàn tay các nghệ nhân thuở xưa đến thời nay đều trở nên bình thường. Nhiếp ảnh đã thâm nhập vào những lĩnh vực truyền thống của hội họa như chân dung, tường thuật, sinh hoạt. Hiện nay nhiếp ảnh là một nghệ thuật tạo hình trong thế giới đương đại cùng với hội họa, điêu khắc, kiến trúc, điện ảnh. Hình họa chân dung từ địa vị cao sang và độc tôn dành cho vua chúa, quý tộc hay những nhân vật khác có đặc quyền đã trở thành những hình ảnh quảng đại, thành hàng hóa trong sự hoàn thiện kỹ thuật của nhiếp ảnh. Nếu như bức họa Mona Lisa được họa sỹ thiên tài Leonardo da Vinci thực hiện trong 4 năm (từ 1503-1507) thì hiện nay chỉ trong chốc lát người nhiếp ảnh gia có thể chụp ngay được một tấm chân dung người mẫu trong studio hay thiếu nữ thanh xuân ngoài trời. Không riêng người chụp chuyên nghiệp, bất kỳ một con người bình thường nào cũng có thể dung máy ảnh hiện đại hoặc điện thoại thông mình để chụp cảnh hoặc selfie tại những địa danh nổi tiếng.

Minh họa 1: Trong bảo tàng Louvre. Ảnh- Thanh Duy. 
Trong bức ảnh trên là hàng trăm du khách đua nhau chụp lại, tự chụp mình trước bức họa Mona Lisa nổi tiếng trong bảo tàng Louvre ở thủ đô Paris- CH Pháp. Được biết mỗi ngày có hàng chục nghìn lượt người khách du lịch đến gian trưng bày này rồi đem về hoặc chia sẻ cả trăm nghìn bức hình chụp lại các tuyệt tác hội họa cũng như ảnh của chính những du khách. Đến mức Davit Piper trong cuốn sách Voir et Comprendre la Peinture (Thưởng ngoạn hội họa, trang 17, biên dịch Lê Thanh Lộc - NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội 1997) đã phải thốt lên: - Có vẻ từ nay nghệ thuật đã mất đi khả năng thực tiễn của nó là làm nhân chứng và gìn giữ kỷ niệm, cái chức năng được máy chụp ảnh thực hiện một cách rẻ tiền và nhanh chóng…
Khuôn khổ bài viết này sẽ không đi quá xa vào tính đại chúng của nhiếp ảnh mà muốn nhấn mạnh: nghệ thuật tạo hình hiện đại không chỉ được thực hiện bằng đôi tay khéo léo của con người mà còn được sáng tạo nhờ sử dụng công nghệ. Nhiếp ảnh, điện ảnh và truyền hình đều ra đời từ những phát mình kỹ thuật.
Có họa sỹ cho rằng hội họa đã khai sinh ra nhiếp ảnh. Chắc chắn đó là một nhận định chưa đúng vì những thí nghiệm của nhà khoa học Pháp Joseph Nicéphore Niepce (1765-1833) vào khoảng năm 1826-1827 trong căn phòng làm việc của mình tại Saint Loup de Vanrennes Saint-Loup-de-Varennes, đã thực hiện thành công bức ảnh cố định (permanent photograph) đầu tiên với tên La cour du domaine du Gras. Bức ảnh được thực hiện trong vòng 8 giời đồng hồ. Mục đích của Niepce là làm sao lưu giữ được hình ảnh của vật thể qua tác dụng của ánh sáng... Bức ảnh này hiện còn được lưu giữ trong bộ sưu tập của Gernsheim ở trường ĐH Texas (Mỹ). Có thể nói đây là bức ảnh xưa nhất tồn tại đến nay mà thời ấy Niepce gọi đó là hình ảnh còn sống sót trong thế giới thực. Luois Jaques Mandes Daguere (1878-1851), nghệ sỹ, nhà vật lý học người Pháp đã cộng tác và kế tục công việc của Niepce để phát minh ra chiếc máy ảnh chụp bằng phương pháp dương bản. Bức ảnh Đại lộ Templ (1838) có thời gian chụp 10 phút của Daguere hình ảnh chỉ có độc bản (không phải chụp từ negative rồi phóng ra giấy như ảnh chụp phim sau nảy). Ông phải hiện hình qua thủy ngân độc hại và phải xem với một góc độ thích hợp. Sáng chế của Daguere được chính phủ Pháp mua lại để tặng cho toàn nhân loại. Và năm 1839 đánh dấu sự ra đời chủa nhiếp ảnh thế giới.
Phát minh về hiện và lưu ảnh của Niepce và Dauege khác hẳn với phương pháp chép cảnh trong buồng tối camera obscura mà các họa sỹ châu Âu vận dụng từ mấy thế kỷ trước thời đại của hai ông.
                                        Minh họa 2: Camera obscura
Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, kỹ thuật nhiếp ảnh đã có những bước tiến dài các thế hệ máy ảnh không ngừng được cải tiến và hoàn thiên. Từ chỗ hình ảnh được hiện nhờ các tấm kính tráng muối bạc, việc chụp ảnh về sau chuyển sang dùng phim miếng, phim cuộn với lớp gelatin tráng các lớp nháy sáng và nhạy màu. Đến nay máy ảnh kỹ thuật số với chip cảm biến hiện đại chuyển tín hiệu hình ảnh thành những dãy số để lưu trữ, xử lý hậu kỳ theo quy trình giải mã thuật toán khi in ra ảnh.
Sự thay đổi về công nghệ của của nhiếp ảnh cũng nằm trong quy luật phát triển mà nghệ thuật tạo hình bằng tay của hội họa và điêu khắc từng trải qua trước đó. Đó là sự phát triển của phương tiện và vật liệu tạo hình. Thuở đầu con người vẽ, khắc trên đá, trên gỗ rồi trên giấy, trên vải… Nặn tượng bằng đất nung, đúc đồng, ghép hình bằng gốm sứ, hay vẽ trên những tấm vải toan bằng bút vẽ đều được thể hiện bằng đôi tay. Nhiếp ảnh thu hình ảnh qua ống kính quang học rồi tái hiện lại chúng bằng chất liệu cảm quang trên mặt phim, in hình trên mặt giấy hoặc phóng hình ảnh bằng máy chiếu. Sự ra đời và phát triển của nhiếp ảnh gắn liền với cách mạng khoa học kỹ thuật thế kỷ 19. Cũng trong dòng thác công nghệ ấy điện ảnh rồi truyền hình cũng lần lượt xuất hiện.

Nghệ thuật nhiếp ảnh và hội họa:

Các họa sỹ cho rằng nhiếp ảnh ra đời từ hội họa có lý một phần vì Louis Daguere trước khi công bố bức ảnh đầu tiên của mình bằng phương pháp hiện ảnh đã là họa sỹ và ông mang ý tưởng làm ra chiếc máy không cần bút vẽ. Chỉ sau phát minh ra máy ảnh của Daguere vài năm, đến năm 1843 các họa sỹ người Scotland David Octavius Hill ( 1802-1870) và Robert Adamson (1821-1848) đã thể hiện những bức ảnh chân dung mang tính hội họa trong đó chuyển tải tính cách của thế giới nội tâm khi tạo hình nhân vật.

    Minh họa 3: Ảnh chân dung của David Octavius Hill và Robert Adamson

Những bước đi tiên phong của các họa sỹ trong lĩnh vực nhiếp ảnh đã đem đến cho nghệ thuật non trẻ này những thủ pháp tạo hình truyền thống của hội họa. Đó là sự kế thừa các phương pháp bố cục, biểu hiện  ánh sáng và các nhiếp ảnh gia hiện nay vẫn vận dụng những tinh hoa của tạo hình hội họa. Theo M.X Kagan ( Mỹ học và Ảnh Nghệ thuật – NXB Văn hóa Hà Nội 1980, trang 71) mối quan hệ giữa nghệ thuật nhiếp ảnh và hội họa đã được hình thành và sẽ còn phát triển…. Ở thời kỳ đầu nghệ thuật nhiếp ảnh còn non trẻ đã ra sức học tập bà chị của mình-(M.X Kagan)
Sự phát triển nhảy vọt về công nghệ của nhiếp ảnh cũng như những thành tựu của nó trong các lĩnh vực tạo hình, báo chí, và mọi đời sống xã hội, một mặt giúp nó củng cố vững chắc vị trí của  một loại hình nghệ thuật hiện đại, mặt khác vẫn bị dị nghị. Cũng theo M.X Kagan ( Mỹ học và Ảnh Nghệ thuật – NXB Văn hóa Hà Nội 1980, trang 11-12) thì nhiều nhà lý luận mỹ học hiện nay vẫn coi nhiếp ảnh là sự sao chép hiện thực trong khi đối với nghệ thuật thì máy móc chỉ làm trung gian trong việc xây dựng hình tượng. Họ cho rằng nhiếp ảnh mô tả các đối tượng một cách thụ động trong khi nghệ thuật đúng nghĩa là sự tái tạo hiện thực khách quan một cách chủ động và sáng tạo. Khác với các loại hình nghệ thuật truyền thống vừa miêu tả đối tượng, vừa biểu lộ quan hệ của mình với các đối tượng đó thì nhiếp ảnh bị hạn chế ở chỗ chỉ sao chép đối tượng. Họ cho rằng chỉ đạo nhiếp ảnh không phải bằng tài năng mà bằng kỹ năng còn nghệ thuật là kết quả của đầu óc tưởng tượng, là con đẻ của tài năng và cảm xúc. Về phía những người bảo vệ nghệ thuật nhiếp ảnh thì khẳng định hình thức sáng tạo mới mẻ này, là phương tiện đặc biệt miêu tả thế giới nhìn thấy, … bức ảnh sẽ trở thành nghệ thuật nếu tác giả của nó có kỹ năng và năng khiếu thẩm mỹ.
Sử dụng nhiều thủ pháp tạo hình truyền thống của hội họa nhưng nhiếp ảnh đã vượt qua hội họa ở tính hiện thực. Ảnh tài liệu đem lại cho người xem những thông tin, tin tức tuyệt đối khách quan, không bị bất cứ nguyên nhân chủ quan nào chi phối. Hơn thế nữa, nhiếp ảnh còn là nghệ thuật của khoảnh khắc. Nó cho chúng ta nhìn được cuộc sống lưu lại từ trong những 1/50 giây, 1/1000 giây … hết sức ngắn ngủi để lưu lại và diễn tả những hiện tượng và biểu cảm rất khó nhận ra từ đời sống. Năm 1957 Henry Cartier-Bresson từng trả lời tờ Washington Post Washington Post rằng: "Nhiếp ảnh không giống như tranh vẽ. Có một phần sáng tạo trong giây lát khi bạn chụp một bức tranh. Mắt của bạn phải nhìn thấy một bố cục hoặc một biểu hiện mà chính bản thân cuộc sống cung cấp cho bạn, và bạn phải biết trực giác khi bấm vào máy ảnh. Đó là thời điểm mà nhiếp ảnh gia sáng tạo” .
                            Minh họa 4: Ảnh Elliott Erwitt
Ảnh nghệ thuật có nhiệm vụ đặc biệt là xây dựng hình tượng nhân vật, nói lên mối quan hệ của các sự kiện đối với con người và nói lên giá trị tâm lý xã hội đối với những sự kiện ấy.
Nhiếp ảnh- sự câm lặng vĩ đại, như những nghệ thuật tạo hình trước nó đã làm được. Một khung tranh, một bức ảnh cũng có câu chuyện kể về những số phận mà không cần phải nói bằng lời. Người xem sẽ tự cảm nhận ngôn ngữ của nhiếp ảnh thông qua sự đậm nhạt, màu sắc, ánh sáng cũng như thần sắc nhân vật trong ảnh.

Nhiếp ảnh và điện ảnh:

Nhiếp ảnh cũng như điện ảnh đều là nghệ thuật từ công nghệ. Nhưng một khuôn hình trích ra từ một cảnh quay không thể so sánh với một bức ảnh nhất là nó không được nhận thức trong một loạt các khuôn hình liên tiếp khác và trong mọi trường hợp nó không được thiết lập để xem xét như một hình ảnh nhiếp ảnh- Alecxandr Iosifovich Lapin đã viết trong cuốn sách Nhiếp ảnh là ... (NXB Treemedia 2013, tr 189). Điện ảnh là chuyển động. Theo nhà lý luận lỗi lạc, nhiếp ảnh gia Nga, người nổi tiếng với hơn 20 cuộc triển lãm quốc tế và nhiều tác phẩm được lưu giữ ở các bảo tàng thế giới, thì đó là chuyển động của từng hình, tạo nên ảo giác chuyển động vật lý thực tế trên màn ảnh, đó là chuyển động nhân vật hoặc mẩu riêng rẽ của tường thuật điện ảnh, bị hạn chế bởi các cảnh trước và sau nó. Chúng có thể thay đổi góc nhìn hay cỡ cảnh, có thể là cú lia hoàn chỉnh hay camera tiến lùi, hoặc như không gì thay đổi cả, chỉ là nhân vật mở mắt hay là đút tay vào túi- (Trang 188)

Cảnh quay - cơ sở của khái niệm ngôn ngữ điện ảnh, đơn vị nhỏ nhất của montage. Một trường đoạn gồm nhiều cảnh phim, mỗi một bộ phim bao gồm nhiều trường đoạn với cả nghìn cảnh quay với hàng trăm ngàn frame ảnh.
Nhưng với nhiếp ảnh chỉ một lần bấm máy với một frame hình lưu lại thôi đã là một tấm ảnh độc lập có một thế giới thông tin và có một câu chuyện kể bằng ngôn ngữ hình riêng.
Nhưng so với Điện ảnh là Nhiếp ảnh động với 24 hình liên tiếp trong một giây, liệu một hình ảnh được fic lại như trong tác phẩm nhiếp ảnh hoặc (một bức tranh) có những yếu tố sống động ?
         

                                      Minh họa 5- Tranh Vào ban đêm. Sóng xanh 1876
Trong bức tranh của họa sỹ lãng mạn Nga Ivan Aivazovxki là những đợt sóng muốn nhấn chìm con tàu với cột buồm chao nghiêng, người xem cảm nhận được là sóng cuồn cuộn cùng nỗi kinh hoàng của dông tố. Ngoài mặt biển điên cuồng là những cơn gió mạnh không ngừng thể hiện qua hai lá cờ quằn quại trên cột buồm. Khoảnh khắc trong một bức tranh tĩnh nhưng chứa đựng bên trong sự dữ dội của biển cả khiến người xem như đang nghe âm thanh sóng dữ. 


                           Minh họa 6: Đà Lạt lúc lên đèn. Ảnh Phạm Thanh Hà
Bức ảnh trên do tác giả (PTH) chụp trong đợt sáng tác tháng 3-2016 của các nghệ sỹ Đại học Sân khấu Điện ảnh tại thành phố Đà Lạt. Thành phố vừa từ chiều chuyển sang tối với ánh đèn bừng sáng khắp thánh phố, in bóng xuống hồ Xuân Hương thơ mộng. Sự chuyển động của cuộc sống thể hiện qua những vệt sáng do xe cộ vẽ nên quanh bùng binh trung tâm thành phố, như rắn lượn quanh hồ. Bức ảnh được lộ sáng với thời gian 30 giây. Lưu một khoảng thời gian dài vào một khoảnh khắc trong khuôn hình là một thủ pháp tạo hình độc đáo chỉ riêng của nhiếp ảnh. Nếu xem khuôn hình trên bằng hình ảnh do máy quay phim ghi lại người xem sẽ thấy cụ thể những chiếc ô tô to nhỏ cùng xe máy nối đuôi nhau chạy trong một cảnh quay độ dài nhiều giây. Nhưng trong bức ảnh chúng bị mất dạng và để lại những vệt kẻ sáng. Cùng một nguyên lý tái hiện hình ảnh và màu sắc nhưng khác nhau phương tiện kỹ thuật, thủ pháp thực hiện, điện ảnh và nhiếp ảnh diễn đạt sự sống động bằng ngôn ngữ khác nhau.
Tác phẩm hội họa của Ivan Aivazovxki nêu trên cũng nói lên rằng, dù hình thức biểu đạt khác nhau nhưng các tác phẩm nghệ thuật tạo hình đều có điểm chung là đều mang cảm xúc thẩm mỹ của người sáng tác và tính tạo hình bằng những ngôn ngữ của ánh sáng, đường nét trong các tác phẩm của họ. “Người nghệ sỹ trong lĩnh vực nhiếp ảnh, cũng như trong các lĩnh vực khác là người điều khiển các ý tưởng, tư duy sáng tạo các hiện tượng hình ảnh và hoàn thiện chúng bằng trình độ nghề nghiệp của mình. Anh ta tự do với nội dung cảnh chụp và thời điểm hành động, theo thời gian; anh ta lựa chọn vị trí chụp và tính chất ánh sáng của đối tượng hình ảnh; trong việc xử lý kỹ thuật và thủ pháp nghệ thuật – những hệ thống quang học khác nhau, kính lọc màu, các phương pháp tráng phim negative và positive, góc độ, thấu thị ảnh, cỡ cảnh, cấu trúc đường nét và tông mật độ của khuôn hình. Đó là những công cụ điều hành các phương tiện luôn ngoan ngoãn và phục tùng người nghệ sỹ, cho phép làm sâu sắc và mở toang ý tưởng, đề tài cho nội dung và đạt tới hình tượng thể hiện của chủ đề trong quyết định tạo hình cuối cùng của bức ảnh. Như vậy, trong nhiếp ảnh không có gì cản trở việc hình thành tác phẩm nghệ thuật. Nó bước vào thế giới nghệ thuật khi nhiệm vụ của nó là khám phá con người và tái hiện hiện thực cho những bức ảnh thông qua các hình tượng nghệ thuật”- (Đưco Lidia Pavlovna, Những cơ sở bố cục ảnh, trang 6)  
       
PTH 

Thứ Bảy, 24 tháng 3, 2018

BÀN VỀ TÍNH CHUYÊN NGHIỆP TRONG NHIẾP ẢNH


NSƯT, NSNA Phạm Thanh Hà         
                                                           

Ảnh Elliott Erwitt

Kể từ khi ra đời, nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực văn hóa có tính quảng đại cao. Trong xã hội phát triển hiện nay nhiều người đã tự chụp lại các sự kiện gia đình mà không cần đến nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp. Sự bùng nổ truyền thông từ thập kỷ cuối thế kỷ 20 đến nay đang càng trở nên sôi động. Trên báo điện tử, mạng xã hội, các bức ảnh phản ánh đời sống xã hội từ những góc sâu thẳm nhất từ cuộc sống từng cá thể được cập nhật, nóng hổi tới từng giây phút với lượng người xem đông đảo.
Trong lĩnh vực sáng tác hình ảnh cũng vậy. Ranh giới cách biệt giữa các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và nghiệp dư cũng không xa. Một người “chơi ảnh” trong một giây lát may mắn có thể chụp được một bức ảnh có giá trị về nghệ thuật khiến nhiều nhiếp ảnh gia đẳng cấp phải ghen tỵ. Một nghệ sỹ nhiếp ảnh có tiếng đến một ngày nào đó sẽ giật mình khi bức ảnh của mình bị một người chụp nghiệp dư ‘vượt mặt’ nhờ một phút xuất thần trong điều kiện thiên thời địa lợi.
Nghệ thuật của nhiếp ảnh tồn tại bởi việc ca ngợi và cô đọng hiện thực, làm sáng rõ bản chất sự thực. Nhiệm vụ của nhiếp ảnh gia chuyên hay không chuyên đều giống nhau – đó là phản xạ bằng trực giác và nắm bắt được khoảnh khắc độc đáo.
Tuy nhiên, có một thực tế đáng suy ngẫm trong thị trường nhiếp ảnh trong nước là việc đánh đồng chất lượng giữa nhiếp ảnh chuyên nghiệp với nghiệp dư. Khi nhiếp ảnh càng được xã hội hóa sâu rộng thì càng bộc lộ nhiều hạn chế và nhược điểm trong việc sáng tạo hình ảnh. Những người “chơi ảnh”, giống như người chơi hoa, nói theo Berthond Beller trong cuốn Suy nghĩ về nhiếp ảnh là người chụp ảnh ngoài giờ, thì những bức ảnh chụp ra trong điều kiện này không đại diện cho ước vọng to lớn của người chụp. Nhà lý luận mỹ học thời CHDC Đức trước đây đã giải thích, vì bức ảnh như một phương tiện truyền thông, mối quan hệ giữa “cái tôi” và “cái tổng thể”, cũng giống như người đi tìm chất liệu cho những bức ảnh có nội dung để phục vụ cho một cuộc sống đầy ý nghĩa. Nhiếp ảnh gia, nhà lý luận nổi tiếng người Nga Alecxandr Lapin cho rằng bất kỳ nhiếp ảnh gia nghiệp dư nào, nếu rất may mắn, anh ta có thể chụp được một bức ảnh có giá trị về nghệ thuật, sánh ngang các tác phẩm của các nghệ sỹ nhiếp ảnh. Nhưng, than ôi, chắc hẳn kiệt tác sẽ biến mất: nhiếp ảnh gia nghiệp dư  không thể hiểu những gì anh ta đã nhận được. Lapin còn đặt ra câu hỏi, nếu có một chuyên gia đánh giá được món quà của số phận ấy thì ai là tác giả của một kiệt tác này – chuyên gia hay một người nhấn nút máy ảnh mà sau đó đã không thể đánh giá đúng tính chất của bức ảnh ?
Con thuyền nhỏ. Ảnh: Alecxandr Lapin

Thử hình dung: Mỗi dịp lúa chín vàng trên Mù Cang Chải, Tú Lệ, hay mùa hoa tam giác mạch ở Đồng Văn… đều có hàng nghìn lượt người săn ảnh đông như trẩy hội với những chiếc máy ảnh đắt tiền nhất, phụ kiện tiên tiến và chuyên biệt đến săn ảnh. Các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp không thể quanh năm suốt tháng “ăn chực, nằm chờ” ở các địa danh nổi tiếng, nhưng những người yêu nhiếp ảnh thì luôn có mặt, bởi họ luôn đông đảo. Và cứ thế sau mỗi “mùa thu hoạch ảnh”, trên các trang mạng xã hội, hàng triệu bức ảnh ra lò với đủ chất lượng thượng vàng hạ cám.
Kỹ thuật số đã thay thế công việc buồng tối, máy tính cùng các phần mềm tiện lợi và đa dạng giúp cho việc hậu kỳ làm ảnh trở nên dễ dàng và đại chúng. Trong thời đại nhiếp ảnh số, kết quả hình ảnh sẽ được hiển thị ngay lập tức. Kiến thức, kỹ năng chụp ảnh truyền bá hàng ngày trên các trang mạng khiến mọi người ai cũng có thể tự thành trở thành nhiếp ảnh gia. Nếu một người có chủ tâm và có ý thức tự đầu tư về kỹ thuật thì các kiến thức truyền tay hay các khóa học ngắn hạn vài tuần là đủ để hành nghề, chứ không nhất thiết phải dùi mài kinh sử 4 năm dưới mái trường  đại học. Các nhà sản xuất với mục đích quảng bá sản phẩm luôn đánh trúng thị hiếu "ngáo" công nghệ của khách hàng, hơn thế nữa, còn tổ chức rầm rộ các cuộc thi, triển lãm với sự tham gia đông đảo của những người yêu nhiếp ảnh. Ngoài ra, các công nghệ số khác như điện thoại, máy tính bảng gọn nhẹ với nhiều hỗ trợ thân thiện và cập nhật cho phép bất kể một ai cũng có thể chụp được ảnh.
Có những tác phẩm ảnh được coi là mới lạ thực ra lại là phiên bản của phong cách nước ngoài từ mấy chục năm trước. Rất nhiều những phong cảnh hóa thành tiên cảnh sau khi được “chế biến” qua những công cụ phần mềm máy tính. Hàng loạt ảnh phản ánh vùng miền, đời sống xã hội cứ na ná giống nhau về mô típ, nội dung. Nhiều nhiếp ảnh gia đang tự nghiệp dư hóa bằng ảnh ghép, ảnh xa rời hiện thực.
Vậy làm thế nào để có thể phân biệt được tính chuyên nghiệp trong nhiếp ảnh, giữa những người nghiệp dư “chơi ảnh” với người chụp ảnh chuyên nghiệp?
Người chơi ảnh là những “tay ngang” đã biết làm chủ thời điểm ghi hình, nắm chắc bố cục và không gian khuôn hình bức ảnh. Họ có thể rẽ trái sang nhiếp ảnh từ những con đường nghề nghiệp khác hoặc tự học hỏi, mày mò, được kèm cặp “chuyền tay”. Khi có được một vài bức ảnh được thừa nhận tại các triển lãm, cuộc thi ảnh có uy tín, họ mặc nhiên đã là nhiếp ảnh chuyên nghiệp. Sự đam mê, khổ luyện cùng với những tích lũy thực tế giúp nhiều người trở thành những nghệ sỹ- nhiếp ảnh gia với đúng nghĩa. Nhưng phần đông còn lại vẫn là các nhà “sản xuất ảnh” theo cảm tính hoặc chạy theo những khẩu vị của cái đẹp chung chung, đôi khi hời hợt. Kết quả là những sản phẩm hình ảnh na ná giống nhau về một địa danh, vùng miền với những nước non, mây trời… Đa phần những bức ảnh hiện nay về ruộng bậc thang óng vàng trong mùa gặt ở Tây Bắc, mây luồn Sapa lộng lẫy trong nắng, hay bình minh Trại Mát- Đà Lạt … chỉ có thể “nịnh mắt” người xem trong chốc lát vì hình ảnh đẹp nhưng ý tứ giản đơn hoặc các tác giả trùng lặp nhau về góc nhìn, cách thể hiện. Giáo sư, tiến sỹ nghệ thuật học M. X. Kagan cũng từng chia sẻ về điều này: hình tượng nghệ thuật mô tả thiên nhiên không phải chỉ chứa đựng hình ảnh vật thể một cách đơn thuần, mà trong đó chủ yếu là nói lên tình cảm của con người đối với vật thể thiên nhiên ấy…, ảnh phong cảnh gây cảm xúc cho tâm hồn người xem, làm cho người xem xúc động thực sự chứ không phải là ngắm nhìn qua loa.
Các “nghệ sỹ” nhiếp ảnh mấy thế hệ qua còn thi nhau sáng tạo hình tượng người phụ nữ Chăm thông qua các cô gái đội nước qua đồi cát Nam Cương. Chỉ những người sống cùng đồng bào dân tộc Chăm ở thôn Tuấn Tú, xã An Hải, Ninh Phước, Ninh Thuận mới hiểu điều này là không đúng bởi truyền thống người Chăm chí lấy nước giếng làng. Họa sỹ Chăm nổi tiếng Đàng Năng Thọ không dưới một lần phàn nàn với chúng tôi rằng: “hình ảnh đó chỉ có các ông chụp hình tự tạo. “Sáng tạo” ấy quá xa vời với văn hoá Chăm !!!!!!”. Và điều kỳ dị hơn nữa, cuộc thi ảnh gần đây của Pentax Việt Nam còn trao giải nhất cho bức ảnh các cô gái Chăm đội … vó tôm qua đồi cát (?) Nhiều bức ảnh phản ánh cuộc sống con người qua những nội dung mòn xáo, đơn diệu về hình thức thể hiện và cũng lộ rõ sự sắp đặt, phản ánh hiện thực không đúng với những lát cắt từ cuộc sống. Người xem đã gặp gỡ khá nhiều những thiếu nữ quê hái sen nhưng thực ra là đầm sen tại Hà Nội, người mẫu với yếm đào lụa pha nilon, trẻ em được trả tiền để cầm nơm úp cá, đường làng được thả khói trong nắng chiều để người nông dân dắt trâu về…
                                     Ảnh: Henri Cartier Bresson
Nhiếp ảnh không phải là điện ảnh! Tái hiện cuộc sống theo cách ước lệ không gian và thời gian như vậy thì nhiếp ảnh tự đánh mất mình, để tự mình trở nên yếu kém trước một lĩnh vực nghệ thuật khác là điện ảnh, một ngành nghệ thuật mang tính công nghiệp với tổ chức sản xuất đồ sộ. Nếu có người nào không nhìn ra sự “tức hứng nghệ thuật”của bản thân đời sống, toan biến cuộc đời thành cái tự tưởng tượng ra, tự đạo diễn ra sự kiện để chụp ảnh, “sắm vai” cho nhân vật thực, sắp xếp nhân vật theo lối sân khấu hay lối tranh cổ điển thì lúc ấy tấm ảnh nghệ thuật không còn nữa mà biến thành vật bịa đặt trông thảm hại PGS- phó tiến sỹ Mỹ học khoa Luân lý và Thẩm mỹ học, đồng thời là GS khoa Triết học  ĐHTH QG Leningrad, Liên Xô cũ M.X. Kagan đã viết.   
Nói như thế không có nghĩa nhiếp ảnh chỉ là sao y bản chính cuộc sống một cách  tự nhiên chủ nghĩa. Nghệ thuật không phải là cái gương vô cảm thấy gì phản chiếu nấy. Người chụp ảnh cần phải lược bỏ các chi tiết ngẫu nhiên, không liên quan đến nội dung thể hiện để tập trung nhấn mạnh vào đối tượng, chủ thể ghi hình, tạo sự tập trung chú ý cho người xem trong một không gian mà anh ta xác định trước, hướng họ vào nhận thức theo chủ kiến của mình, tạo ra cảm xúc cần thiết bằng ánh sáng, tông sáng và gam màu. Nhiếp ảnh kế thừa hội họa những kiến thức về bố cục và màu sắc nhưng không thể bắt chước hội họa. Các nghệ sỹ nhiếp ảnh có thể chụp được những bức ảnh đẹp như tranh vẽ. Nhưng hội họa không thể có được tính chân thực của nhiếp ảnh. Sản phẩm  của nghệ sỹ nhiếp ảnh “vẫn gây ra ấn tượng chân thực, chứ không hề có dấu hiệu nào chứng tỏ đó là kết quả của óc tưởng tượng như các tác phẩm nghệ thuật khác” (M.X Kagan). 
Người chụp ảnh chuyên nghiệp biết phân biệt rõ ràng ảnh nghệ thuật và ảnh tài liệu- báo chí. Ảnh nghệ thuật không nhất thiết phụ thuộc tuyệt đối vào ý nghĩa xã hội của đối tượng mô tả. Đó là sự “chơi” của bố cục, đường nét, của giai điệu ánh sáng, của nhịp điệu cũng như thời gian lộ sáng. Các tác phẩm nhiếp ảnh nghệ thuật vừa mang tính biểu trưng của hội họa, lại đầy ẩn dụ của thơ ca cũng như bày tỏ ý niệm của tác giả. Xét cho cùng thì thơ ca – là một nghệ thuật hàm chứa từ ngữ được biểu đạt trong một bài khóa. Cũng đúng như vậy với nhiếp ảnh- một nghệ thuật hàm chứa các chi tiết riêng lẻ vào một hình ảnh với ý nghĩa trọn vẹnTổ chức có nhịp điệu, phân lớp mặt phẳng, trọng âm-nhịp điệu  trong các yếu tố riêng biệt – tất cả điều đó cho phép khả năng để so sánh nhiếp ảnh với  thơ ca (A. Lapin). Các tác phẩm ảnh nghệ thuật không chỉ với mục đích ghi chép làm tư liệu hay phản ánh hiện thực mà còn nhằm truyền đạt đến người xem những cảm xúc thẩm mỹ và giá trị nhân văn. Nếu như bên trong ảnh nghệ thuật là hình tượng thì ảnh báo chí ghi lấy một khoảnh khắc lịch sử và gìn giữ cho tương lai” (chữ dùng của Brian Horton). Ảnh báo chí kể lại một câu chuyện bằng hình ảnh, là một hay những bức ảnh thời sự phản ánh những sự kiện, điểm nóng, kính tế, văn hóa, hoạt động của chính khách cũng như mọi nhân vật trong đời sống xã hội. Nếu chỉ loay hoay với tạo hình thì sự kiện sẽ trôi qua và nhiếp ảnh gia sẽ tuột mất thời khắc quý giá. Nắm chắc các thủ pháp tạo hình và ánh sáng là kiến thức chung của nhiếp ảnh gia, nhưng người chụp ảnh tài liệu và báo chí luôn phải đặt trước cho mình chức năng truyền đạt thông tin, không thể tự áp đặt các phong cách biểu hiện hình ảnh lên người xem. Sử dụng những ấn tượng thị giác trong ảnh báo chí nhiều khi làm mất tính trung thực của bản chất sự kiện hay con người cụ thể. Trong thực tế nhiều tác phẩm ảnh bị chơi vơi giữa nghệ thuật và báo chí. Có những bức đẹp về hình thức thể hiện nhưng ít thông tin, nội dung xa rời hiện thực, kiểu như người phụ nữ làng nghề bên cửa, chị em vùng cao bắt chấy cho con, hay những phụ nữ nông  thôn áo mới trong mùa gặt v.v…
Ảnh: Xergey Vaxiliev
          Người chụp ảnh chuyên nghiệp cần có kiến thức về lịch sử nhiếp ảnh để nắm rõ các bước phát triển của nhiếp ảnh, các trường phái, các tác gia nhiếp ảnh lớn trong và ngoài nước. Với kiến thức về các thể loại những khuynh hướng sáng tác qua các thời kỳ, nhiếp ảnh gia sẽ không phải mầy mò về thủ pháp thể hiện hoặc chạy theo những đề tài, xu hướng sáng tác nhất thời như các nghệ nhân ảnh thường mắc phải. Nhờ có những kiến thức nền người cầm máy chuyên nghiệp có thể tự tìm ra cách biểu hiện những gì quan sát được trong thực tế đời sống. Giai điệu màu sắc, phối cảnh, bố cục, góc độ thu hình… luôn là các công cụ tạo hình, cho phép người chụp ảnh gửi gắm vào tác phẩm của mình những ý nghĩa nghệ thuật giàu liên tưởng, tượng trưng và những khả năng gợi cảm.
Ảnh sưu tầm tại Gallery American gothic
Với đặc thù của nhiếp ảnh, giữa sáng tác của những người không chuyên và chuyên nghiệp, ít có sự cách biệt quá xa, nhưng nghệ thuật nhiếp ảnh có khả năng dạy cho rất nhiều người cách nhìn thế giới bằng con mắt của người nghệ sỹ (chữ dùng của M.X Kagan). Và tất nhiên, lời nhắn nhủ của ông dành cho các nhiếp ảnh gia theo đúng nghĩa.
PTH
Tài liệu tham khảo:
1.     A. Lapin,  Nhiếp ảnh là thế… , Nhà xuất bản Treemedia, Matxcva, năm 2013
2.     Berthond Beller , Suy nghĩ về nhiếp ảnh, NXB Điện ảnh- Nhiếp ảnh Lai Xích 1977, NXB Văn hóa HN 1986, người dịch Lê Phức.
3.     Brian Horton, Ảnh báo chí, NXB Thông tấn Hà nội, năm 2004
4.     M. X. Kagan, Mỹ học và ảnh nghệ thuật, NXB Văn hóa Hà Nội 1980, bản dịch Nguyễn Huy Hoàng)